Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất;
còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. (Mt 16,25)
BÀI ĐỌC I: Gr 20, 7-9
“Lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Lạy Chúa, Chúa đã khuyến dụ tôi, và Chúa đã khuyến dụ được tôi. Chúa đã hùng mạnh hơn tôi và thắng được tôi: suốt ngày tôi đã trở nên trò cười, và mọi người đều chế nhạo tôi. Mỗi lần tôi nói, tôi phải la lớn và loan báo sự hung bạo và điêu tàn, cho nên lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã và bị chế nhạo suốt ngày. Tôi đã nói rằng: “Tôi sẽ không nhớ đến Người nữa, sẽ không nhân danh Người mà nói nữa, thì lúc đó trong lòng tôi như lửa đốt nóng, âm ỉ trong xương cốt tôi, tôi kiệt sức, không chịu nổi nữa”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 62, 2. 3-4. 5-6. 8-9
Đáp: Lạy Chúa là Thiên Chúa con, linh hồn con khát khao Chúa (c. 2b).
Xướng:
1) Ôi lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa của con, con thao thức chạy kiếm Ngài. Linh hồn con khát khao, thể xác con mong đợi Chúa con, như đất héo khô, khát mong mà không gặp nước! - Đáp.
2) Con cũng mong được chiêm ngưỡng thiên nhan ở thánh đài, để nhìn thấy quyền năng và vinh quang của Chúa. Vì ân tình của Ngài đáng chuộng hơn mạng sống, miệng con sẽ xướng ca ngợi khen Ngài. - Đáp.
3) Con sẽ chúc tụng Ngài như thế trọn đời con; con sẽ giơ tay kêu cầu danh Chúa. Hồn con được no thỏa dường như bởi mỹ vị cao lương, và miệng con ca ngợi Chúa với cặp môi hoan hỉ. - Đáp.
4) Vì Chúa đã ra tay trợ phù con, để con được hoan hỉ núp trong bóng cánh của Ngài. Linh hồn con bám thân vào Chúa, và tay hữu Chúa nâng đỡ người con. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: Rm 12, 1-2
“Anh em hãy tiến thân làm của lễ sống động”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tôi nài xin anh em vì lượng từ bi Thiên Chúa, hãy hiến thân anh em làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là việc phụng thờ hợp lý anh em phải làm. Anh em đừng theo thói đời này, nhưng hãy canh tân lòng trí anh em, để anh em biết đâu là thánh ý Chúa, biết điều gì tốt lành đẹp lòng Chúa và hoàn hảo.
Đó là lời Chúa.
Tin mừng: Mt 16, 21-27
21 Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. 22 Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” 23 Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”
24 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. 25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. 26 Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?
27 “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.
Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân
GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN NĂM A
WHĐ (01/9/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của các lễ Chúa nhật 22 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
Số 618: Đức Kitô kêu gọi các môn đệ vác Thánh giá và theo Người
618. Thánh giá là hy tế duy nhất của Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người [1] . Nhưng bởi vì, trong Ngôi Vị Thiên Chúa nhập thể của Người, “một cách nào đó Người đã tự kết hợp với toàn thể mọi người” [2] , nên Người đã “ban cho mọi người một khả năng để, theo cách Thiên Chúa biết, họ được kết hợp vào mầu nhiệm Vượt Qua” [3] . Người kêu gọi các môn đệ vác thập giá mình mà theo Người [4] , bởi vì Người đã chịu khổ nạn vì chúng ta, đã để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi bước theo Người [5] . Quả thật, Người cũng muốn những người đầu tiên hưởng nhờ hy tế cứu chuộc của Người được kết hợp vào hy tế ấy [6] . Điều đó được thực hiện, một cách cao cả nhất, nơi Mẹ Người, Mẹ được kết hợp vào mầu nhiệm cuộc khổ nạn cứu chuộc của Người một cách mật thiết hơn bất cứ ai khác [7] .
“Đây là chiếc thang thật và duy nhất của thiên đàng, và ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để lên trời” [8] .
Số 555, 1460, 2100: Thánh giá như là đường dẫn tới vinh quang của Đức Kitô
555. Chúa Giêsu tỏ lộ vinh quang thần linh của mình trong chốc lát, và như vậy Người xác nhận lời tuyên xưng của ông Phêrô. Người cũng cho thấy rằng, để “vào trong vinh quang của Người” (Lc 24,26), Người phải đi qua thập giá tại Giêrusalem. Ông Môisen và ông Êlia đã thấy vinh quang của Thiên Chúa trên núi; Lề luật và các Tiên tri đã tiên báo những đau khổ của Đấng Messia [9] . Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đúng là do ý muốn của Chúa Cha: Chúa Con hành động với tư cách là Người Tôi Trung của Thiên Chúa [10] . Đám mây nói lên sự hiện diện của Chúa Thánh Thần: “Cả Ba Ngôi cùng xuất hiện, Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong nhân tính của mình, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói” [11] :
“Lạy Chúa Kitô là Thiên Chúa, Chúa đã hiển dung trên núi và, tuỳ theo khả năng, các môn đệ Chúa chiêm ngưỡng vinh quang Chúa, để mai sau khi thấy Chúa chịu đóng đinh thập giá, họ hiểu rằng Chúa đã tự nguyện chịu khổ hình. Rồi họ sẽ loan báo cho thế giới biết Chúa chính là vinh quang Chúa Cha chiếu toả” [12] .
1460. Việc đền tội, mà vị giải tội ấn định, phải chú ý đến tình trạng riêng của hối nhân và mưu cầu điều thiện hao thiêng liêng cho họ. Bao nhiêu có thể, việc đền tội phải tương xứng với sự trầm trọng và bản chất của các tội đã phạm. Có thể đền tội bằng cách cầu nguyện, dâng cúng, bằng những việc từ thiện, phục vụ tha nhân, bằng các việc hãm mình, hy sinh, và nhất là kiên trì đón nhận thánh giá chúng ta phải vác. Những việc đền tội như thế giúp chúng ta nên giống Đức Kitô, Đấng duy nhất, đã đền bù tội lỗi chúng ta [13] một lần cho mãi mãi. Chung sẽ làm cho chúng ta trở nên đồng thừa tự với Đức Kitô phục sinh, bởi vì “chúng ta cùng chịu đau khổ với Người” (Rm 8,17) [14] :
“Chúng ta không thể làm việc đền tội để đền vì tội lỗi chúng ta, nếu không nhờ Chúa Giêsu Kitô: tự sức mình chúng ta không thể làm được gì, nhưng cùng với Người là ‘Đấng ban sức mạnh cho chúng ta, chúng ta làm được mọi việc’ [15] . Con người không có gì để tự phụ, nhưng tất cả vinh quang của chúng ta là ở nơi Đức Kitô, … trong Người, chúng ta đền tội, bằng cách ‘làm ra những hoa quả xứng đáng của lòng thống hối’ [16] , do Người, những hoa quả ấy có sức mạnh; bởi Người, chúng được dâng lên Chúa Cha; và nhờ Người, chúng được Chúa Cha chấp nhận” [17] .
2100. Hy lễ bên ngoài, để có thể là hy lễ thật, phải là sự diễn tả của hy lễ tinh thần: “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát ...” (Tv 51,19). Các tiên tri thời Giao Ước cũ thường tố cáo các hy lễ được thực hiện mà không có sự tham dự nội tâm [18] hay không được liên kết với tình yêu đối với người lân cận [19] . Chúa Giêsu nhắc lại lời của tiên tri Ôsê: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13; 12,7) [20] . Chỉ có một hy lễ trọn hảo duy nhất là hy lễ Đức Kitô đã dâng trên thập giá, bằng sự tận hiến cho tình yêu của Chúa Cha và để cứu độ chúng ta [21] . Khi chúng ta kết hợp mình với hy lễ của Người, chúng ta có thể biến cuộc đời mình thành hy lễ dâng lên Thiên Chúa.
Số 2015: Con đường của sự trọn hảo phải đi qua thập giá
2015. Con đường của sự trọn hảo phải đi qua thập giá. Không thể có sự thánh thiện, nếu không có sự từ bỏ và cuộc chiến đấu thiêng liêng. [22] Sự tiến bộ về đời sống thiêng liêng bao hàm sự khổ chế và hy sinh hãm mình, là những điều từng bước dẫn tới việc sống trong bình an và hoan lạc của các mối phúc:
“Ai trèo lên, người đó không bao giờ ngừng từ bắt đầu này tiếp sau bắt đầu kia, qua những bắt đầu không chấm dứt. Người đó không bao giờ ngừng ao ước điều người đó đã biết rồi” [23] .
Số 2427: Vác thập giá của chúng ta trong đời sống hằng ngày
2427. Lao động của con người xuất phát trực tiếp từ những nhân vị, đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, và được kêu gọi để tiếp nối công trình tạo dựng, cùng với nhau và cho nhau, bằng việc làm chủ trái đất [24] . Vì vậy, lao động là một bổn phận: “Ai không chịu làm việc thì cũng đừng ăn” (2 Tx 3,10) [25] . Lao động biểu dương các hồng ân của Đấng Tạo Hoá và những tài năng đã lãnh nhận. Lao động cũng có giá trị cứu chuộc. Khi chịu đựng những vất vả [26] của lao động trong sự kết hợp với Chúa Giêsu, người thợ làng Nazareth và đã chịu đóng đinh vào thập giá trên đồi Calvariô, con người cộng tác một cách nào đó với Con Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc của Người. Họ biểu lộ mình là môn đệ của Đức Kitô, khi vác thập giá hằng ngày trong hoạt động họ được kêu gọi chu toàn [27] . Lao động có thể là một phương thế thánh hóa và làm sinh động các thực tại trần thế trong Thần Khí của Đức Kitô.
BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA – CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN NĂM A
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 22 Thường niên năm A.
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 22 Thường niên năm A (03/9/2023) – Cơn khát nơi chúng ta và tình yêu làm dịu cơn khát
(Đức Thánh Cha tông du Mông Cổ)
Anh chị em thân mến
“Với những lời của Thánh Vịnh, chúng ta đã cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa,[…] Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước” (Tv 63:2). Lời kêu cầu tuyệt vời này đồng hành trên hành trình cuộc đời của chúng ta, giữa những sa mạc mà chúng ta được mời gọi băng qua. Và chính tại miền đất khô hạn này, Tin Mừng đã đến với chúng ta: chúng ta không đơn độc trên hành trình của mình; sự khô hạn của chúng ta không có khả năng làm cằn cỗi mãi mãi cuộc sống của chúng ta; tiếng kêu khát của chúng ta không cứ mãi bị làm ngơ. Thiên Chúa Cha đã sai Con của Người đến ban nước hằng sống để làm dịu tâm hồn chúng ta (x. Ga 4,10). Và Chúa Giêsu – như chúng ta vừa nghe Người trong Tin Mừng – chỉ cho chúng ta con đường làm dịu cơn khát của chúng ta: đó là con đường tình yêu, mà Người đã đi đến tận cùng, đến tận thập giá, và trên đó Người mời gọi chúng ta đi theo Người “liều mất mạng sống mình để có lại nó” mới (x. Mt 16:24-25).
Chúng ta hãy cùng nhau dừng lại ở hai khía cạnh này: cơn khát nơi chúng ta và tình yêu làm dịu cơn khát của chúng ta.
Trên hết, chúng ta được mời gọi nhận ra cơn khát nơi chúng ta. Tác giả Thánh vịnh kêu cầu Chúa giải thoát khỏi cơn khát vì sự sống của tác giả giống như sa mạc. Những lời của tác giả Thánh vịnh cộng hưởng cách đặc biệt ở một vùng đất như Mông Cổ: một lãnh thổ rộng lớn, giàu lịch sử và văn hóa, nhưng cũng được đánh dấu bởi sự hiu quạnh của thảo nguyên và khô hạn của sa mạc. Nhiều người trong số anh chị em đã quen với vẻ đẹp và sự mệt nhọc của việc bước đi, một hành động gợi lại một khía cạnh thiết yếu của linh đạo Kinh thánh, được thể hiện qua hình ảnh Abraham và, nói chung hơn, đặc trưng của dân Israel và của mọi môn đệ của Chúa: thật sự, tất cả chúng ta đều là những “kẻ du mục của Chúa”, những kẻ hành hương đi tìm hạnh phúc, những kẻ lữ hành khao khát tình yêu. Vì thế, sa mạc được tác giả Thánh vịnh nói đến gợi lên cuộc sống của chúng ta: chúng ta là mảnh đất khô hạn đó vốn đang khát dòng nước trong, một thứ nước làm dịu cơn khát ở tận cõi thâm sâu; chính con tim chúng ta mong muốn khám phá bí mật của niềm vui đích thực, bí mật có thể đồng hành và nâng đỡ chúng ta ngay cả giữa sự khô cằn hiện sinh. Đúng vậy, chúng ta mang trong mình một khao khát hạnh phúc không thể nguôi ngoai; chúng ta đang tìm kiếm ý nghĩa và phương hướng cho cuộc sống của mình, tìm kiếm động lực cho những hoạt động mà chúng ta thực hiện hàng ngày; và trên hết chúng ta khao khát tình yêu, bởi vì chỉ có tình yêu mới thực sự làm chúng ta thỏa mãn, làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu, mở ra cho chúng ta niềm tin, và cho phép chúng ta tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống. Anh chị em thân mến, đức tin Kitô giáo đáp lại cơn khát này; hãy suy xét nó cách nghiêm túc; đừng loại bỏ nó, đừng cố gắng xoa dịu nó bằng những hình thức giảm nhẹ hoặc thay thế. Bởi vì mầu nhiệm cao cả của chúng ta nằm ở niềm khao khát này: nó mở ra cho chúng ta một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng đến gặp chúng ta để làm cho chúng ta thành con cái của Người và anh chị em của của nhau.
Giờ đây chúng ta đi đến khía cạnh thứ hai: tình yêu làm dịu cơn khát của chúng ta. Đây là nội dung của đức tin Kitô giáo: Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, nơi Chúa Giêsu Con của Người, đã trở nên gần gũi bạn, muốn chia sẻ cuộc sống của bạn, những vất vả, những ước mơ, cơn khát hạnh phúc của bạn. Đúng là đôi khi chúng ta cảm thấy mình như một vùng đất sa mạc, khô không giọt nước, nhưng cũng đúng là Thiên Chúa chăm sóc chúng ta và ban cho chúng ta dòng nước trong lành và làm dịu cơn khát, dòng nước chảy tuôn tràn nơi chúng ta, đổi mới chúng ta, giải phóng chúng ta khỏi nguy cơ cháy khát. Chúa Giêsu ban cho chúng ta nước này, như Thánh Augustinô khẳng định: “nếu chúng ta nhận ra mình bị khát, thì chúng ta cũng sẽ nhận ra mình được giải khát” (về Tv 62, 3). Thật vậy, nếu rất nhiều lần trong đời chúng ta trải qua sa mạc, cô đơn, mệt mỏi, cằn cỗi, chúng ta không được quên điều này: “Để chúng ta không ngất xỉu trong sa mạc này – thánh Augustinô nói thêm – Thiên Chúa rảy trên chúng ta sương Lời Người [ ... ]. Thật vậy, Người làm chúng ta cảm thấy khát nhưng sau đó Người lại làm dịu nó đi. […] Thiên Chúa đã thương xót chúng ta và mở đường cho chúng ta trong sa mạc: Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Và Người đã ban cho chúng ta niềm an ủi trong sa mạc: những người rao giảng Lời Người. Người đã ban cho chúng ta nước trong sa mạc, đổ đầy Thánh Thần trên những người rao giảng để tạo nên nơi họ một nguồn nước dâng lên đến sự sống đời đời” (ibid., 3.8). Anh chị em thân mến, những lời này nhắc lại lịch sử của anh chị em: nơi sa mạc cuộc sống và nơi khó khăn của một cộng đoàn nhỏ bé, Chúa không để anh chị em thiếu nước Lời Người, nhất là qua những người rao giảng và những nhà truyền giáo, những người được Chúa Thánh Thần xức dầu, những người gieo vẻ đẹp. Và Lời Chúa luôn đưa chúng ta trở lại với những điều thiết yếu của đức tin: hãy để cho mình được Thiên Chúa yêu thương hầu cho cuộc sống của chúng ta trở thành một lễ vật yêu thương. Bởi vì chỉ có tình yêu mới thực sự làm dịu cơn khát của chúng ta.
Đó là điều Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã mạnh mẽ nói với tông đồ Phêrô. Ông không chấp nhận sự thật rằng Chúa Giêsu phải chịu đau khổ, bị các nhà lãnh đạo dân chúng vu cáo, chịu khổ hình rồi chết trên thập giá. Phêrô phản ứng, phản kháng, ông muốn thuyết phục Chúa Giêsu rằng Người sai, bởi vì theo ông – và chúng ta cũng đã nghĩ như vậy – rằng Đấng Messia không thể có kết cục thất bại, và Người tuyệt đối không thể bị đóng đinh vào thập giá, như một tội phạm bị Thiên Chúa bỏ rơi. Nhưng Chúa đã khiển trách Phêrô, vì lối suy nghĩ này là “theo kiểu thế gian” chứ không theo Thiên Chúa (x. Mt 16:21-23). Nếu chúng ta cho rằng thành công, quyền lực, của cải vật chất là đủ để thỏa mãn cơn khát trong cuộc sống thì đây là não trạng thế gian, không dẫn đến điều gì tốt đẹp, trái lại còn khiến chúng ta khô cằn hơn trước. Ngược lại, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16:24-25).
Anh chị em thân mến, con đường tốt nhất là: hãy ôm lấy Thánh giá của Chúa Kitô. Nơi tâm điểm Kitô giáo, có tin sốc và lạ thường này: khi bạn mất đi sự sống mình, khi bạn dâng hiến nó cách quảng đại, khi bạn mạo hiểm nó qua sự dấn thân trong tình yêu, khi bạn biến nó thành quà tặng miễn phí cho người khác, thì sự sống đó sẽ quay trở lại với bạn cách dồi dào, và nó mang lại cho bạn một niềm vui không mất, một sự bình an trong tâm hồn, một sức mạnh nội tâm nâng đỡ bạn.
Đây là sự thật mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta khám phá, mà Chúa Giêsu muốn mặc khải cho tất cả anh chị em, cho vùng đất Mông Cổ này: anh chị em không cần phải lớn lao, giàu có hay quyền lực mới có được hạnh phúc. Chỉ có tình yêu mới làm thoả cơn khát trái tim chúng ta, chỉ có tình yêu mới chữa lành vết thương của chúng ta, chỉ có tình yêu mới mang lại cho chúng ta niềm vui đích thực. Và đây là con đường Chúa Giêsu đã dạy và mở ra cho chúng ta.
Vậy chúng ta cũng hãy lắng nghe lời Chúa nói với Phêrô: “Hãy lui lại đàng sau Thầy” (Mt 16:23), nghĩa là: hãy trở thành môn đệ của Thầy, hãy bước đi trên con đường Thầy đi và đừng suy nghĩ theo kiểu thế gian nữa. Khi đó, với ân sủng của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ có thể bước đi trên con đường tình yêu. Thậm chí, yêu thương có nghĩa là từ bỏ chính mình, đấu tranh chống lại sự ích kỷ cá nhân và thế gian, chấp chận mạo hiểm để sống tình huynh đệ. Bởi vì nếu đúng là tất cả những điều này đều đòi hỏi phải trả giá bằng vất vả, hy sinh, và đôi khi phải leo lên thập giá, và càng đúng hơn khi chúng ta mất mạng sống vì Tin Mừng, thì Chúa lại ban cho chúng ta tràn đầy tình yêu và niềm vui một cách tràn đầy và mãi mãi.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 22 Thường niên năm A (30/8/2020) – Phục vụ Thiên Chúa và tha nhân
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Đoạn Tin mừng hôm nay (Mt 16,21-27) nối tiếp Tin mừng Chúa nhật tuần trước (Mt 16,13-20). Sau khi ông Phêrô, nhân danh các môn đệ khác, tuyên xưng niềm tin nơi Chúa Giêsu là Đức Mêssia và là Con Thiên Chúa, chính Chúa Giêsu bắt đầu nói với các ông về cuộc khổ nạn của Ngài. Trên đường tiến về Giêrusalem, Chúa công khai giải thích cho những người bạn của Ngài về điều đang chờ đợi Ngài trong chặng chót tại thành Thánh: Chúa loan báo mầu nhiệm cái chết và sự sống lại, sự hạ nhục và vinh quang của Ngài. Chúa cho biết Ngài sẽ “phải chịu đau khổ nhiều do các kỳ lão, trưởng tế và luật sĩ, sẽ bị giết rồi sống lại ngày thứ ba” (Mt 16,21). Nhưng những lời của Chúa không được hiểu, vì các môn đệ có một niềm tin chưa trưởng thành và quá gắn bó với não trạng của trần thế (xc. Rm 12,2).
Đứng trước viễn tượng Chúa Giêsu có thể thất bại và chết trên thập giá, chính ông Phêrô đã nổi loạn và nói với Chúa: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (v.22). Tin nơi Chúa Giêsu, muốn theo Ngài, nhưng không chấp nhận vinh quang của Ngài qua khổ nạn. Đối với ông Phêrô và các môn đệ khác - và cả chúng ta nữa! - thập giá là một “chướng ngại”, một cớ vấp phạm, trong khi Chúa Giêsu coi việc “trốn chạy khỏi thập giá là “điều vấp phạm”, là “gương mù”, nghĩa là muốn tránh không tuân theo ý Chúa Cha, tránh sứ mạng mà Chúa Cha đã ủy thác cho Ngài để cứu độ chúng ta. Vì thế, Chúa Giêsu trả lời Phêrô: “Satan, hãy lui ra đằng sau Thầy! Con cản lối Thầy, vì tư tưởng của con không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, nhưng là của người phàm!” (v.23) Mười phút trước đó, Chúa Giêsu đã khen Phêrô, và hứa cho ông là nền tảng Giáo hội của Ngài; mười phút sau Chúa gọi ông là Satan. Phải hiểu điều này ra sao? Đó là điều cũng xảy ra cho chúng ta: trong những lúc sốt sắng, đầy thiện chí, gần tha nhân, chúng ta nhìn Chúa Giêsu và tiến bước, nhưng trong những lúc chúng ta gặp thánh giá, chúng ta bỏ chạy. Ma quỉ, Satan, cám dỗ chúng ta, như Chúa nói với Phêrô. Đó chính là đặc tính của ác thần, của ma quỉ, là làm cho chúng ta xa lìa thập giá, thập giá của Chúa Giêsu.
“Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy bỏ mình đi, vác thánh giá hằng ngày mà theo Thầy” (v.24). Qua cách thức này, Chúa chỉ rõ con đường của người môn đệ chân thực, qua hai thái độ: Thứ nhất là “từ bỏ chính mình”, đây không có nghĩa là một sự thay đổi hời hợt, nhưng là một sự hoán cải, một sự đảo lộn các giá trị. Thái độ thứ hai là vác thập giá của mình. Đây không phải chỉ là kiên nhẫn chịu đựng những sầu muộn hằng ngày, nhưng là, với tinh thần đức tin và trách nhiệm, nhận phần cơ cực và đau khổ mà cuộc chiến đấu chống sự ác kéo theo. Cuộc sống của Kitô hữu luôn luôn là một cuộc chiến đấu. Kinh thánh dạy rằng cuộc sống của tín hữu là chiến đấu chống ác thần, chống lại Sự Ác.
Như thế, quyết tâm “vác thập giá” trở nên sự tham phần với Chúa Kitô vào việc cứu độ thế giới. Khi nghĩ đến điều đó, chúng ta hãy làm sao để thánh giá trên tường nhà, hoặc thánh giá nhỏ mà chúng ta đeo ở cổ, trở thành dấu hiệu ước muốn của chúng ta kết hiệp với Chúa Kitô trong việc yêu thương phục vụ anh chị em, nhất là những người nhỏ bé và mong manh nhất. Thập giá là dấu hiệu thánh của Tình yêu Thiên Chúa và Hy sinh của Chúa Giêsu, và không được thu hẹp vào một đồ vật mê tín hay một đồ trang sức. Mỗi lần chúng ta nhìn ngắm hình ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh, chúng ta hãy nghĩ rằng Chúa, như Người Tôi Tớ đích thực của Thiên Chúa, đã thực thi sứ mạng của Ngài bằng cách hiến mạng sống, đổ máu đào để chuộc tội. Vì thế, nếu chúng ta muốn là môn đệ của Chúa, chúng ta được kêu gọi noi gương Ngài, hiến thân không chút dè dặt vì yêu mến Chúa và tha nhân.
Xin Đức Trinh Nữ Maria cùng với Con của Mẹ, trên đồi Canvê, giúp chúng con đừng lui bước trước những thử thách và đau khổ vẫn đi kèm việc làm chứng cho Tin mừng.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 22 Thường niên năm A (03/9/2017) – Chỉ có tình yêu mới mang lại ý nghĩa và hạnh phúc
Anh chị em thân mến!
Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 16:21-27) tiếp nối đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật trước. Trong bài đọc hôm nay, thánh Phêrô tuyên xưng đức tin. Thánh Phêrô là “đá tảng” mà Chúa muốn xây dựng Giáo Hội. Thế nhưng thánh sử Mátthêu cho chúng ta thấy phản ứng của thánh Phêrô trước việc Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn. Khi Chúa nói với các môn đệ rằng, Người lên Giêrusalem để chịu đau khổ, bị giết và sẽ sống lại, ông Phêrô đã cản ngăn mà nói: Điều ấy không thể xảy ra với Thầy được, không thể xảy ra với Đấng Kitô được. Chúa trách mắng Phêrô rất nặng lời: “Hỡi Satan, lui lại đằng sau Thầy, vì anh làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì anh chẳng hiểu những gì thuộc về Thiên Chúa mà chỉ nghĩ theo lối loài người”.
Ngay trước đó, ông Phêrô được Thầy Giêsu khen và chúc phúc vì ông nhận được mặc khải từ Chúa Cha để tuyên xưng đức tin. Ông còn được Chúa Giêsu coi là đá tảng vững chắc để xây đựng Giáo Hội. Vậy mà chỉ trong giây lát, ông đã trở nên chướng ngại, trở nên hòn đá làm vấp ngã trên con đường của Đấng Mêsia. Chúa Giêsu biết rõ: Phêrô và những người khác vẫn còn chặng đường dài để có thể trở thành môn đệ của Chúa.
Lúc ấy, Thầy Giêsu bắt đầu giải thích với tất cả những ai đang theo Người rằng: Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà đi theo Ta. Luôn là như thế, ngay cả ngày nay, có một cám dỗ, đó là muốn đi theo Đấng Kitô mà không có thập giá. Cám dỗ ấy giống như cám dỗ mà Phêrô đã làm đối với Thầy Giêsu khi ông nói: Không đâu, điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra đâu. Nhưng Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng, con đường của Người là con đường tình yêu, và chẳng có tình yêu chân thực nào mà lại không cần hy sinh bản thân. Chúng ta được mời gọi không bị lôi kéo bởi thế gian này, nhưng ngày càng nhận thức được tính khẩn thiết và nỗ lực cần có, để người Ki-tô hữu có thể lội ngược dòng đời.
Chúa Giêsu kết thúc bằng những lời khôn ngoan tuyệt vời, những lời luôn có giá trị, bởi vì chúng ta gặp thách đố về tâm lý là luôn tự coi mình làm trung tâm. Chúa nói: Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ cứu được. Trong nghịch lý ấy, có một quy luật vàng mà Thiên Chúa khắc ghi trong bản tính con người được tạo dựng trong Chúa Kitô. Quy luật đó là: chỉ có tình yêu mới mang lại ý nghĩa và hạnh phúc cho cuộc sống. Nếu chúng ta dành tài năng, sức lực và thời gian để cứu chữa để bảo vệ chính mình, thì thực ra chúng ta đánh mất, và đó là một sự tồn tại buồn tẻ. Thế nhưng, nếu chúng ta sống vì Chúa và đặt cuộc đời chúng ta trên tình yêu như Chúa Giêsu đã làm, thì chúng ta có thể hưởng nếm niềm vui đích thực, và cuộc đời chúng ta sẽ không tẻ nhạt nhưng sinh hoa kết trái.
Khi cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta tái khám phá mầu nhiệm thập giá. Chúng ta không chỉ nhớ mà thôi, nhưng còn cử hành Hy tế cứu chuộc mà Con Thiên Chúa đã hiến dâng tất cả và liều mất chính mình, để rồi Người nhận lại từ Chúa Cha. Chúa Con làm tất cả vì chúng ta, để tìm chúng ta, để cứu chúng ta khỏi hư mất, để liên kết chúng ta với mọi tạo vật. Mỗi lần tham dự Thánh Lễ, cầu mong tình yêu của Chúa Kitô chịu đóng đinh và đã phục sinh, kết hiệp mật thiết với chúng ta như của ăn thức uống, để chúng ta có thể theo Chúa trong từng bước đường đời, trong từng hành vi cụ thể phục vụ anh chị em.
Lạy Mẹ Maria rất thánh! Mẹ đã theo Chúa Giêsu cho tới tận đồi Calvario. Xin Mẹ đồng hành với chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con không còn sợ thập giá, nhưng biết liên kết với Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Xin cho chúng con biết liên kết với thập giá, không phải là thập giá vắng bóng Chúa, nhưng là thập giá Chúa Giêsu, nghĩa là đón lấy thập giá, vác lấy thập giá, vì tình yêu Thiên Chúa và tình yêu dành cho anh chị em. Và những đau khổ ấy, nhờ ân sủng của Chúa Kitô, sẽ trổ sinh hoa trái của sự phục sinh.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 22 Thường niên năm A (31/8/2014) – Đừng chiều theo lối sống của thế gian
Anh chị em thân mến, chào anh chị em
Trong hành trình Chúa nhật với Tin Mừng theo thánh Matthêu, hôm nay chúng ta đi tới điểm trọng yếu, trong đó, sau khi kiểm chứng về niềm tin của thánh Phêrô và 11 môn đệ khác nơi Ngài như Đấng Messia và là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu “bắt đầu giải thích cho họ biết Ngài sẽ phải lên Giêrusalem và chịu đau khổ nhiều..., bị giết và sống lại ngày thứ ba” (16,21). Đó là một thời điểm quan trọng qua đó ta thấy rõ sự đối nghịch giữa lối suy tư của Chúa Giêsu và của các môn đệ. Thậm chí, Phêrô cảm thấy nghĩa vụ cần phải trách Thầy mình, vì không thể gán cho Đấng Messia một sự kết thúc ô nhục như thế. Bấy giờ, Chúa Giêsu nghiêm khắc khiển trách Phêrô, chỉnh lý ông, vì ông đã không suy nghĩ “theo Thiên Chúa, nhưng theo loài người” (v.23) và vì ông đã không thấy mình đang theo phe Satan, kẻ cám dỗ.
Trong phụng vụ hôm nay, cả thánh Phaolô cũng nhấn mạnh về điểm này, thánh nhân viết cho các tín hữu Roma và nói với họ rằng: “Anh chị em đừng chiều theo thế gian này, đừng đi vào khuôn mẫu của thế gian này, nhưng hãy để cho mình được biến đổi, canh tân cách suy nghĩ của anh chị em, để có thể phân định ý Thiên Chúa” (Rm 12,2). Trong thực tế, các tín hữu Kitô chúng ta sống trong trần thế, hoàn toàn ở trong thực tại xã hội và văn hóa của thời đại chúng ta, và đúng là như thế; nhưng điều này bao hàm nguy cơ chúng ta theo thói thế gian, nguy cơ muối mất hương vị, như Chúa Giêsu nói (Xc Mt 5.13), nghĩa là tín hữu Kitô tan loãng, đánh mất sức mạnh của sự mới mẻ đến từ Chúa và Thánh Linh. Hành động ngược lại như thế thì mới đúng, nghĩa là khi sức mạnh của Tin Mừng vẫn còn sinh động nơi Kitô hữu, thì có thể biến đổi “những tiêu chuẩn phán đoán, các giá trị quyết định, những điểm hay ho, những đường hướng tư tưởng, những nguồn mạch gợi hứng và những kiểu mẫu đời sống” (Phaolô VI, Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, 19). Thật là buồn khi thấy có những Kitô hữu bị loãng, dường như họ trở thành rượu loãng, người ta không biết họ là Kitô hữu hay là người của thế gian, như rượu loãng, ta không biết đó là rượu hay là nước! Đó thực là điều buồn, buồn khi thấy những Kitô hữu không còn là muối đất nữa, và chẳng có ích lợi gì nữa. Muối của họ đã mất vị, vì họ chiều theo tinh thần thế gian này, trở thành người trần tục.
Vì thế, cần phải liên tục canh tân, kín múc nhựa sống từ Tin Mừng. Và làm sao có thể thi hành điều này? Trước tiên, bằng cách đọc và suy niệm Tin Mừng mỗi ngày, nhờ đó Lời Chúa Giêsu luôn hiện diện trong đời sống chúng ta. Anh chị em hãy nhớ: việc mang theo sách Phúc Âm trong mình sẽ giúp anh chị em: một cuốn Phúc âm nhỏ ở trong túi, trong sắc, và đọc một đoạn trong ngày. Nhưng luôn mang theo Phúc Âm, vì đó có nghĩa là mang Lời Chúa Giêsu, để có thể đọc. Ngoài ra, bằng cách tham dự thánh lễ chúa nhật, qua đó chúng ta gặp Chúa trong cộng đoàn, chúng ta lắng nghe Lời Chúa và lãnh nhận Thánh Thể liên kết chúng ta với Chúa và giữa chúng ta với nhau; rồi những ngày tĩnh tâm và linh thao rất quan trọng để canh tân tinh thần. Tin Mừng, Thánh Thể, kinh nguyện: nhờ những hồng ân này của Chúa, chúng ta có thể trở nên đồng hình dạng, không phải với thế gian, nhưng là với Chúa Kitô, và theo Chúa trên con đường của Ngài, con đường “mất mạng sống mình” để tìm lại nó (v.25). Mất mạng sống theo nghĩa trao tặng, dâng hiến sự sống ấy vì yêu thương và trong tình thương - và điều này có nghĩa là phải hy sinh, thánh giá - để nhận lại sự sống được thanh tẩy, được giải thoát khỏi ích kỷ và hậu quả của sự chết, được tràn đầy sự vĩnh cửu.
Đức Trinh Nữ Maria luôn đi trước chúng ta trên con đường này; chúng ta hãy để cho Mẹ hướng dẫn và tháp tùng chúng ta.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 22 Thường niên năm A (28/8/2011) – Suy nghĩ theo ý Chúa là chấp nhận thập giá
Anh chị em thân mến,
Trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ hiểu rằng Người phải “đi Giêrusalem và chịu đau khổ nhiều vì các bô lão, các thủ lãnh các tư tế và các ký lục, bị giết chết và sống lại ngày thứ ba” (Mt 16,21).
Tất cả xem ra bị đảo lộn trong con tim của các môn đệ. Làm sao mà “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (c. 16) lại có thể bị đau khổ cho tới chết được? Tông đồ Phêrô nổi loạn, không chấp nhận con đường ấy, nên mới lên tiếng nói với Thầy rằng: “Xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp chuyện ấy” (c. 22). Có sự khác biệt hiển nhiên giữa chương trình tình yêu của Thiên Chúa Cha – Đấng thậm chí ban chính Con Một trên thập giá để cứu chuộc nhân loại – và các chờ mong, ước muốn, và dự án của các môn đệ. Và sự đối chọi ấy ngày nay cũng lập lại nữa: khi việc thực hiện cuộc đời mình chỉ hướng tới chỗ thành công xã hội, sự giầu sang vật lý và kinh tế, thì nó không lý luận theo Thiên Chúa nữa, mà theo con người (c. 23).
Suy tư như thế giới là gạt bỏ Thiên Chúa ra một bên, không chấp nhận chương trình tình yêu của Người, và hầu như ngăn cản Người chu toàn ý muốn khôn ngoan của Người. Vì thế, Chúa Giêsu mới nói với Phêrô một lời đặc biệt cứng cỏi: “Hãy lui ra đàng sau Ta, Satan! Con là cớ gây vấp phạm cho Thầy” (ibid.). Chúa dạy cho biết rằng “con đường của các môn đệ là theo Người, Đấng Bị Đóng Đinh”. Nhưng trong tất cả ba Phúc Âm Người đều giải thích việc đi theo đó trong dấu chỉ của thập giá... như con đường “đánh mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (Đức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).
Cũng như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ, ngày nay Người cũng mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính minh, vác thập giá mình và theo Thầy” (Mt 16.24). Tín hữu kitô theo Chúa, khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, xem ra nó là một thất bại và là việc “đánh mất đi sự sống” (x. c.25-26), vì họ biết rằng mình không vác thập giá một mình, nhưng chia sẻ cùng con đường hiến dâng đó với Chúa. Vị Tôi tớ Chúa Gioan Phaolô II đã viết như sau: “Một cách nhiệm mầu chính Chúa Kitô chấp nhận... chết trên một thập giá để nhổ tận gốc rễ tội kiêu căng khỏi trái tim con người, và biểu lộ một sự vâng phục toàn vẹn con thảo” (Es. ap. Gaudete in Domino (9 maggio 1975, AAS 67 (1975) 300-301). Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn nhân loại. Thánh Cirillo thành Giêrusalem giải thích rằng: “Thập giá chiến thăng đã soi sáng những ai bị mù lòa vì ngu muội, đã giải thoát người bị tội lỗi giam cầm, đã đem lại ơn cứu độ cho toàn nhận loại” (Catechisis Illuminandorum XIII,1; de Christo crucifixo et sepulto: PG 33, 772 B).
Chúng ta hãy phó thác lời cầu nguyện của chúng ta cho Đức Trinh Nữ Maria và thánh Agostino mà hôm nay chúng ta kính nhớ, để cho mỗi một người trong chúng ta biết theo Chúa trên con đường thập giá, và để cho mình được biến đổi bởi ơn thánh Chúa, bằng cách canh tân kiểu suy tư “hầu có thể phân định ý muốn của Thiên Chúa, biết điều nào tốt, hoàn hảo và đẹp lòng Chúa” (Rm 12,2).
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 22 Thường niên năm A (31/8/2008) – Chiến thắng sự ác bằng tinh yêu thập giá
Anh chị em thân mến,
Hôm nay, trong Tin Mừng, tông đồ Phêrô cũng xuất hiện hàng đầu. Nhưng Chúa nhật tuần trước chúng ta đã ngưỡng mộ thánh nhân vì niềm tin tinh tuyền nơi Chúa Giêsu, Đấng mà thánh nhân tuyên xưng là Đức Kitô và là Con Thiên Chúa, lần này giai thoại tiếp ngay theo đó cho thấy một niềm tin của thánh nhân vẫn chưa trưởng thành và quá gắn bó với “não trạng của thế gian này” (cf Rm 12,2). Thực vậy, khi Chúa Giêsu bắt đầu nói công khai về số phận đang chờ đợi ngài ở Giêrusalem, nghĩa là Ngài sẽ phải chịu đau khổ rất nhiều và bị giết, rồi sống lại, Phêrô phản đối và nói: “Xin Chúa cứu Thầy khỏi điều đó; điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra cho Thầy” (Mt 16,22). Hiển nhiên là Thầy và trò theo hai lối tư tưởng đối ngược nhau. Phêrô theo lý lẽ phàm nhân, và xác tín rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ để cho Con của Chúa kết thúc sứ mạng với cái chết trên thập giá. Trái lại Chúa Giêsu biết rằng, trong tình yêu thương bao la đối với nhân loại, Chúa Cha đã sai Ngài đến để hiến mạng sống vì họ, và nếu sứ mạng này bao gồm cuộc khổ nạn và cái chết, thì điều xảy ra như thế thật là chính đáng. Đàng khác, Chúa cũng biết rằng tiếng nói cuối cùng sẽ là sự phục sinh. Sự phản đối của Phêrô, tuy là do tình ngay và do tình yêu chân thành đối với Thầy, nhưng đối với Chúa Giêsu, nhưng thái độ ấy giống như một sự cám dỗ, một lời mời gọi hãy cứu mạng sống mình, trong khi chỉ qua việc mất mạng sống, Chúa mới nhận lại được cuộc sống mới mẻ và đời đời cho tất cả chúng ta.
Nếu để cứu chúng ta, Con Thiên Chúa đã phải chịu đau khổ và chết vì đóng đanh, chắc chắn đó không phải vì kế hoạch tàn ác của Chúa Cha trên trời. Lý do là vì căn bệnh nặng nề mà Ngài phải chữa trị cho chúng ta: một sự ác nghiêm trọng và gây chết chóc đến độ nó đòi tất cả máu của Ngài. Thực vậy, chính nhờ sự chết và phục sinh mà Chúa Giêsu đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, tái lập chủ quyền của Thiên Chúa. Nhưng cuộc chiến đấu chưa chấm dứt; sự ác vẫn còn và kháng cự trong mọi thế hệ, kể cả trong thời đại chúng ta. Những kinh hoàng của chiến tranh, bạo lực trên người vô tội, lầm than và bất công đè nặng trên những người yếu là gì nếu chẳng phải là sự kháng cự của sự ác chống lại Nước Thiên Chúa? Và làm sao đáp lại bao nhiêu sự gian ác như thế nếu không bằng sức mạnh không võ trang của tình yêu chiến thắng oán thù, của sự sống không sợ chết? Đó chính là sức mạnh huyền nhiệm mà Chúa Giêsu đã dùng, dù không được cảm thông và bị nhiều môn đệ của Ngài bỏ rơi.
Anh chị em thân mến, để chu toàn công trình cứu chuộc, Đấng Cứu Thế tiếp tục liên kết với bản thân Ngài và sứ mạng của Ngài những người nam nữ sẵn sàng vác thánh giá và theo Ngài. Cũng như đối với Chúa Kitô, việc các tín hữu mang thánh giá không phải là điều tùy ý, nhưng là một sứ mạng phải đón nhận vì tình yêu. Trong thế giới chúng ta ngày nay, như bị sức mạnh chia rẽ và tàn phá thống trị, Chúa Kitô không ngừng đề nghị với tất cả mọi người lời mời gọi rõ ràng của Ngài: “ai muốn làm môn đệ của Thầy, thì hãy từ bỏ sự ích kỷ của mình và vác thập giá với thầy”. Chúng ta hãy xin Mẹ Maria phù trợ, Mẹ là Đấng đầu tiên đã theo Chúa Giêsu trên đường thập giá cho đến cùng. Xin Mẹ giúp chúng ta quyết liệt đi theo Chúa, để dù trong thử thách chúng ta cảm nghiệm ngay từ bây giờ vinh quang của sự sống lại.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Suy niệm: Sau khi Ðức Giêsu tỏ cho các Tông Ðồ con đường Thập Giá Ngài sắp bước vào. Phêrô, con người đầy nhiệt huyết và rất thương Thầy, ông không thể chấp nhận được: Thầy là Ðấng Kitô mà lại phải chịu khổ nạn. Theo các ông, Thầy phải được ca tụng, tôn vinh, được mọi người suy phục mới hợp lý. Vì thế ông vội vàng can ngăn, không muốn Thầy phải đối đầu với sự dữ.
Con đường Thập Giá là con đường duy nhất để Ðức Giêsu thực hiện sứ mệnh Cứu Thế theo như ý Thiên Chúa Cha. Phêrô vì thương Thầy nhưng vô tình, trở thành đồng lõa vớ Satan làm cản trở sứ mệnh của Ngài. Ðức Giêsu đã thẳng thắn quở trách Phêrô. Chỉ có con đường duy nhất Ngài bước đi là thi hành ý của Chúa Cha cách trọn vẹn.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, sự thẳng thắn của Chúa dạy chúng con phải quyết liệt dứt khoát với những cám dỗ xúi dục chúng con chống lại ý Cha. Cha phải là tuyệt đối. Ý Cha phải trên tất cả. Dù là ai, dù là tình nghĩa đến đâu cũng không vì thế mà vị nể. Xin Chúa giúp sức cho chúng con để chúng con được trung thành đi theo đường lối của Cha. Amen.
Ghi nhớ: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy”.
Suy niệm (Lm. Inhaxiô Hồ Văn Xuân)
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Gr 20,7-9
1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a, một trong bốn vị đại ngôn sứ của Cựu Ước : I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en và Đa-ni-en. Nhân dịp này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một điểm nổi bật trong cuộc đời của vị đại ngôn sứ này : ngôn sứ Giê-rê-mi-a, con người của Lời Chúa. Không một ngôn sứ nào đã công bố và sống Lời Chúa triệt để như ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Tính tình ông dịu dàng và nhạy cảm, vậy mà ông được gọi để nhổ, để lật, để huỷ, để phá (Gr 1,10). Thích yên hàn mà cứ phải đấu tranh để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gổ với mình (Gr 15,10). Yêu quê hương, yêu đất nước, mà không được cầu nguyện cho đồng bào (Gr 14,11), cứ phải cổ vũ sự thần phục ngoại bang, để rồi bị lên án là kẻ phản quốc (Gr 20,8 ; 38,4). Ông không thể tin ai, ngay cả những người thân thích của ông (Gr 12,6) ; ông không thể hội nhập với người ta, dù là trong tang chế hay trong lễ hội (Gr 16,5-9), ngay cả niềm vui của một tổ ấm riêng cũng không được hưởng (Gr 16,1-4). Tóm lại, ông phải sống như một kẻ đơn chiết nhất trên đời, luôn luôn phải ngồi riêng một mình (Gr 16,7). Đúng là một thảm kịch.
2. Tại sao vậy, thưa anh chị em ? Thưa bởi vì Lời Chúa đã áp đặt lên ông. Lời Chúa tấn công ông, lay lắt giày vò ông, đòi buộc ông phải hoàn toàn gắn bó với ý định của Chúa : sống thảm kịch cuộc đời như một phương tiện để Thiên Chúa hành động giữa lòng dân tộc ông. Một đàng gặp được Lời Chúa con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ, làm vui thoả lòng con (Gr 15,16). Nhưng đàng khác, tâm can tôi tan nát, xương cốt tôi rã rời. Tôi nên như người say, nên như người bứ rượu, cũng chỉ vì Đức Chúa, vì thánh ngôn của Người (Gr 23,9). Lời Chúa giống như ngọn lửa, như chiếc búa đập tan đá khối (Gr 23,29). Được đặt vào môi miệng ngôn sứ (Gr 1,9), Lời Chúa cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt ông (Gr 20,9), và đối với dân Giu-đa ngoan cố, Chúa sẽ làm cho lời của Người thành lửa nơi miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a để biến họ thành củi (Gr 5,14). Trong cuộc đời của vị ngôn sứ này, Lời Chúa là nhân tố chủ chốt, vừa là kẻ phá đám lại vừa là lẽ sống của ông, như là một thứ bạo chúa thất thường, xem ra muốn đòi ông phải đánh mất chính mình và xa lánh đồng loại, nhưng thật ra để đẩy ông chìm sâu hơn vào thực tại.
3. Hơn mọi ngôn sứ khác, ngôn sứ Giê-rê-mi-a phải gồng mình để chấp nhận Lời Chúa và chấp nhận chính mình trong một tương quan với Lời đó. Những lời thổ lộ tâm tình của ông với Thiên Chúa cho thấy rõ ý nghĩa của cuộc đời ông như một ngôn sứ : Tại sao con cứ phải đau khổ hoài ? (Gr 15,18). Ông chua chát phàn nàn với Chúa về sự cô đơn của ông, như là bị tha hoá về một kiếp sống phù du ... nhưng tất cả chỉ đơn giản để nói rằng cuộc đời của ông bị xâu xé bởi một sứ mạng mà ông không thể thoái thác được. Trong những cuộc đối thoại nội tâm này, lời con người luôn phải đương đầu với lời Thiên Chúa và kết cuộc là bao giờ lời Thiên Chúa cũng thắng. Không dễ gì biết rõ được tâm lý của Giê-rê-mi-a trong kinh nghiệm ngôn sứ của ông, nhưng những cuộc đối thoại ấy có diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử nào đi nữa, thì chúng ta cũng phải nhận rằng mối bận tâm sâu sắc và liên lỉ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a vẫn là lời Thiên Chúa.
Bao giờ thì mỗi người chúng ta mới có thể được gọi là con người của Lời Chúa ? Tôi nghĩ chắc còn lâu lắm. Nhưng khi đặt câu hỏi như vậy là tôi nhắc nhở anh chị em cũng như chính bản thân tôi là Lời Chúa trong Kinh Thánh có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống đức tin của mỗi người chúng ta. Vậy hãy hưởng ứng lời mời gọi tha thiết của Đức Tổng Giám Mục Giu-se của chúng ta là hãy siêng năng đọc Lời Chúa mỗi ngày, rồi suy niệm và đem ra thực hành. Đó là chúng ta xây dựng ngôi nhà đức tin trên nền đá tảng vững chắc, dù có phong ba bão táp, ngôi nhà đó vẫn vững bền.
Đáp ca : Tv 62
1. Thánh vịnh 62 là thánh vịnh nói lên tâm hồn khao khát Chúa. Chúng ta cùng suy niệm thánh vịnh này : “Nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui”, một hình ảnh thật đẹp và ý nghĩa. Chúng ta hãy tưởng tượng mình đang ở “nơi cực thánh” của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi có đặt Hòm Bia Giao Ước, là chiếc hòm đựng hai tấm bia ghi khắc Mười Điều Răn do Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en. Hòm Bia được làm bằng gỗ keo, dài một thước hai, rộng bảy tấc rưỡi, cao bảy tấc rưỡi, bọc bằng vàng ròng. Phần trên được gọi là nắp “xá tội”, vì hằng năm vị thượng tế rảy máu con vật sát tế lên mặt Hòm Bia để xin ơn tha tội. Ở hai đầu nắp xá tội có hai tượng thần hộ giá (thần Kê-ru-bim) đối diện với nhau, cùng cúi mặt xuống nắp. Trong Hòm đặt hai tấm bia đã khắc Mười Điều Răn, là các điều khoản của Giao ước giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en (Xh 25,10-22). Ở đây một vị tư tế đang cầu nguyện trong Đền Thờ, dưới bóng cánh của các thần hộ giá, cảm thấy mình được tình thương của Chúa bao bọc từ bình minh cho tới ban đêm.
2. Các hình ảnh khác của thánh vịnh này đều vay mượn từ ngôn ngữ của các thầy Lê-vi : “Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện”, “Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng, và giơ tay cầu khẩn danh Ngài. Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc.”
Thật ra, thánh vịnh này giống như một dụ ngôn. Thầy Lê-vi ở đây là toàn thể dân Ít-ra-en, từ bình minh lịch sử của họ cho đến ngày thế mạt, họ ngạc nhiên về sự thân mật Thiên Chúa dành cho họ : “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.”
Từ bình minh của lịch sử dân tộc mình, Ít-ra-en đã vô cùng ngạc nhiên về sự thân tình Chúa dành cho họ : “Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.” Chắc chắn là một ám chỉ thời gian lang thang trong sa mạc sau khi ra khỏi Ai-cập và kinh nghiệm khủng khiếp của dân Ít-ra-en khi bị khát tại Ma-xa và Mơ-ri-va (Xh 17). Lời cầu nguyện đẹp nhất là lời cầu nguyện phát xuất từ sự nghèo khó thiêng liêng của chúng ta, như tiếng kêu than của người đang khát nước : “Tôi khát.”
“Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện” là một ám chỉ đến những cuộc thần hiện của Thiên Chúa trên núi Xi-nai, nơi thánh, dân Chúa đã chiêm ngắm Thiên Chúa đã ban cho họ Giao ước : “để thấy uy lực và vinh quang của Ngài”, trong ký ức của dân Ít-ra-en, lời nói trên gợi nhớ những điềm thiêng dấu lạ của cuộc Xuất hành Chúa dùng để giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập.
Ngày nay, theo gương dân Ít-ra-en, dân Ki-tô giáo cũng dâng lên Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót nỗi khát khao, lòng trông đợi. Thánh vịnh 62 là một phần trong những thánh vịnh của giờ Kinh Sáng Chúa nhật tuần 1 : bởi vì trong Phụng vụ Ki-tô giáo, Chúa nhật là ngày mừng Đức Ki-tô Phục Sinh, ngày đặc biệt, trong đó chúng ta cử hành toàn bộ mầu nhiệm Giao ước giữa Thiên Chúa với dân riêng của Người, từ bình minh lịch sử dân tộc của họ, trong khi chờ đợi Nước Cha trị đến như chúng ta vẫn thường đọc trong kinh Lạy Cha.
Bài đọc 2 : Rm 12,1-2
Mười một chương đầu của thư Rô-ma bàn về vấn đề giáo lý. Những chủ đề thần học quan trọng của thánh Phao-lô được trình bày dài và sâu sắc : sức mạnh của ân sủng, tội lỗi tràn lan, con người được nên công chính nhờ đức tin, mầu nhiệm Phục Sinh, hành động của Chúa Thánh Thần, ơn cứu độ được hứa ban cho tất cả mọi người. Bây giờ, giống như trong tất cả các thư khác, thánh Phao-lô rút ra cho độc giả của ngài những hệ quả về lời giáo huấn của ngài, những chân lý đó làm đảo lộn đời sống của họ. “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.” Những gì thánh Phao-lô nói ở đây đều liên kết mật thiết với những gì ngài trình bày trước đây, đặc biệt là trong những hàng cuối cùng của chương trước ; những từ “Thiên Chúa thương xót tất cả mọi người” và tiếp tục ngay sau là thánh thi ca tụng thánh ý nhiệm mầu mà chúng ta đọc ở Chúa nhật vừa qua : “Khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào.” Do đó, thánh Phao-lô nói, chẳng cần phải do dự gì hết : đối với Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và muốn cứu độ hết thảy mọi người không trừ ai, tha thứ vô bờ, chỉ có một câu trả lời duy nhất thôi, đó là hoàn toàn phó thác và tin tưởng : “Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.” Thánh Phê-rô cũng nói một cách khác : “Thật vậy, Đức Ki-tô đã lấy thần lực của Người mà ban tặng chúng ta tất cả những gì giúp chúng ta được sống và sống đạo đức, khi Người cho chúng ta biết Đấng đã dùng vinh quang và sức mạnh của mình mà kêu gọi chúng ta. Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,3-4).
Vì thế, chúng ta được mời bước vào tiến trình của thánh vịnh 40 diễn tả : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con ; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến !’” (Tv 40,7). Chúng ta cũng nghe tiếng vang trong lời dạy của ngôn sứ Mi-kha : “Hỡi bạn, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó chính là thực thi công bằng, quý yêu nhân nghĩa, và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6,8).
Việc dấn thân này là một tham dự tích cực vào việc thực thi ý Chúa là “Đấng muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Thánh Phao-lô dùng phần tiếp theo của thư Rô-ma để trình bày bản chất sự dấn thân của các Ki-tô hữu : mỗi người, tuỳ theo ơn Chúa ban, và khả năng của mình mà cộng tác vào sứ vụ của Giáo Hội là phục vụ tất cả mọi người. Điều đó đòi hỏi mỗi người chúng ta như thánh Phao-lô dạy : “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.”
Ước gì mỗi người chúng ta làm như thánh Phao-lô dạy.
Bài Tin Mừng : Mt 16,21-27
Câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay tiếp ngay sau lời tuyên xưng đức tin của ông Phê-rô được Chúa Giê-su khen ngợi : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều đó, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” Như tất cả các mối phúc khác, ở đây “anh thật là người có phúc” vừa nói lên lời chúc mừng, vừa là một lời khích lệ, và trong thực tế, ông Phê-rô phải phấn đấu rất nhiều để có thể trung thành với lời tuyên xưng đức tin này, đơn giản là vì ông chưa biết hết tầm quan trọng của lời tuyên xưng ông vừa thốt ra. Chúa Giê-su không ngừng làm cho ông sửng sốt. Quả thật, một cách nào đó, Chúa Giê-su vừa âm thầm cám ơn ông Phê-rô về việc nhận ra Người là Đấng Mê-si-a (chính Chúa Cha đã mặc khải cho ông Phê-rô danh xưng đó) và ngay sau đó, Chúa Giê-su tỏ cho các môn đệ biết sứ vụ thật sự của Người khi xuống thế gian và ở cùng chúng ta : “Từ lúc đó, Chúa Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”, đó là một thế giới hoàn toàn đảo ngược : một bậc quân vương không quân đội, không một đặc ân nào cả, mọi sự đều rất tệ, một vị vua bị ngược đãi, bị hành hạ và bị đóng đinh trên thập giá. Một tiên báo khó chấp nhận quá, một ý tưởng thật lạ lùng !
Ông Phê-rô có lý khi can gián Chúa Giê-su. Giống như nhiều người đương thời, ông Phê-rô trông chờ một Đấng Mê-si-a – Vua, bách chiến bách thắng, vinh hiển, uy quyền, và chỉ cần một lần là đuổi quân Rô-ma chiếm đóng ra khỏi lãnh thổ Pa-lét-tin, quê hương yêu dấu của ông. Do đó, ông khó mà chấp nhận lời tiên báo của Chúa Giê-su vì ngược lại với điều ông suy nghĩ và tha thiết chờ mong. Thiên Chúa Toàn Năng mà phải chịu như vậy sao ? Ông không thể chấp nhận được đâu ! Ta có thể nói ở đây là “lời chối Chúa đầu tiên của ông Phê-rô”, lời từ chối đầu tiên bước theo Đấng Mê-si-a trên con đường thập giá. Chúa Giê-su đối lại lời từ chối bộc phát của ông Phê-rô : “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”
Trong thực tế, những tư tưởng đột xuất của chúng ta tầm thường biết bao. Do đó chúng ta cần để cho Chúa Thánh Thần biến đổi những tư tưởng đó cho phù hợp với thánh ý Chúa, và thỉnh thoảng phải thay đổi hoàn toàn thì mới có thể phù hợp với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Kế hoạch đó không gì khác hơn là cứu độ toàn thế giới, nghĩa là làm phát sinh một nhân loại mới, một nhân loại chỉ biết sống yêu thương và đạo đức, theo hình ảnh của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, ơn cứu độ con người không chỉ dùng cây đũa thần quơ một lần là xong, làm như thế thì còn gì tự do của chúng ta ? Do đó, ơn cứu độ con người phải đi qua tiến trình hoán cải từng bước. Làm sao con người hoán cải được nếu không có ai chỉ đường ? Vì thế, chúng ta cần biết rằng Chúa Giê-su đã đi đến cùng con đường dịu dàng, nhân từ, tha thứ, để chúng ta noi gương Người trong cuộc sống đức tin thường ngày của mỗi người chúng ta.
Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa hoàn toàn không phù hợp với một Đấng Mê-si-a chiến thắng. Để cho con người “nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4), con người phải thấy rằng Thiên Chúa là Đấng dịu dàng, tha thứ, giàu lòng thương xót. Việc đó chỉ trở thành hiện thực trong sự tự hiến của Chúa Giê-su trên thập giá : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Kể vài câu chuyện minh hoạ : Thánh Mắc-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê ; viên sĩ quan hiến binh Pháp : Beltrame Arnaud ; cậu lễ sinh Kendrik Castilo (Denver, Colorado).
Vâng theo thánh ý Chúa trong đời sống đức tin thường ngày là điều chúng ta cần quan tâm thực hiện, dù nhiều khi chúng ta không hiểu tường tận thánh ý nhiệm mầu của Chúa.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết vâng theo lời Chúa dạy và noi gương việc Chúa làm, để chúng con luôn luôn là những chứng nhân của Lòng Chúa Xót Thương đối với tha nhân.
Tự vấn :
Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta đã cố gắng nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su chưa ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Theo Đức Giê-su
(Mgr. L. Daloz trong cuốn “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, tr. 242-243).
Nếu ta chăm chú nghe lời Đức Giê-su, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ hãy sống phong phú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình giữ được sự sống. Thu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì, nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không được cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của “sở hữu” nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính “người” được lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?” Đức Giê-su nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người, trái tim con người được tạo nên để mở ra, để yêu thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. “Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình”, thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn quy chiếu mọi sự về bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân : mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thật sự là của con người.
Thật là một nghịch lý cho con người, anh ta chỉ thật sự thành công trong cuộc sống khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc dầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình ; những người thành công trong cuộc sống đẹp đẽ và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực, lòng tận tuỵ để phục vụ tha nhân … cho đến hy sinh sự sống của mình. Đức Giê-su đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp chỉ con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, Người còn mặc khải ý nghĩa đầy đủ. Người đã đi con đường mà Người muốn cho những ai theo Người phải đi : “Ai muốn theo tôi …” Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao ? Con đường thập giá, Người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ của quãng đường dẫn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ : đó là sự Phục Sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe doạ đâu, mà là một lời hứa. “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên sứ của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.” Không có gì phải sợ khi bạn liều mạng sống vì Đức Giê-su, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành công cuối cùng : “Ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Đức Giê-su mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban.
2. Biểu trưng của thập giá
(D. Ponnau, Giám Đốc trường Louvre, trong tạp chí “Le Monde de la Bible”, số 97, tr. 5).
Biểu tượng của Thập Giá đi trước và vượt quá biên giới của thế giới Ki-tô giáo. Tuy vậy nó là dấu chỉ quen dùng nhất có tính đặc trưng và tính phổ quát của Ki-tô giáo. Từ thời trước Đức Ki-tô và từ thời Đức Ki-tô, thập giá là một biểu tượng có tính toàn cầu phổ biến nhất và được nói đến nhiều nhất, ở ngoài những miền đã tin theo Tin Mừng. Nó liên kết hết mọi người “Phương Đông” ở mặt đất, ở trên trời và trong không gian. Lâu đời trước thời Đức Ki-tô, thập giá đã là dụng cụ khổ hình ghê sợ và ô nhục, chỉ dành cho những cặn bã của xã hội, những tên nô lệ nổi loạn. Nhưng Đức Ki-tô đã làm nó trở nên biểu tượng của Đức Ki-tô và của các môn đệ của Người.
Người Do-thái đòi phép lạ, người Hy-lạp tìm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô chịu đóng đinh, là vấp phạm đối với người Do-thái, là điên dại đối với dân ngoại, còn đối với những kẻ được gọi, cả Do-thái và Hy-lạp, Người là Đấng Ki-tô, quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã nói như thế và chính Đức Giê-su cũng đã nói : “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” Đấng là Ngôi Lời hằng hữu, nói theo các môn đệ, tự trao ban ngay từ khởi thuỷ, như Đấng bị đóng đinh và Đấng kêu gọi người ta chết đi đóng đinh vào thập giá. Người trao ban bản thân với tư cách đó trong lời Người và trong lời của những kẻ mà Người linh hứng. Không phải trong ảnh tượng của Người. Phải chờ đến thế kỷ IV thì ảnh tượng thập giá của Chúa mới được trưng bày cho người ta chiêm ngưỡng. Thánh nữ Hê-lê-na đã phát hiện ra ở Giê-ru-sa-lem và rồi sau đó xuất hiện vinh quang ở thành thánh. Từ đó thập giá được làm bằng kim loại quý và được cẩn đá quý. Rồi nhiều thế kỷ sau đó mới thấy xuất hiện tượng thánh giá có mang Đấng chịu khổ hình. Nghịch lý thay một biểu tượng có tính toàn cầu lại là một biểu tượng ô nhục. Nghịch lý thay sự vinh quang được tung hô bằng lời nói, lại không thể chịu được bằng mắt nhìn.
Người ta đã có thể gây vấp phạm là trương lên tên gọi của thập giá và của Đức Giê-su bị đóng đinh. Nhưng phải đợi rất lâu sau người ta mới có thể trưng bày thập giá cho mắt thấy, và đợi một thời gian nữa, mới thấy trưng bày Đấng mà họ đã đóng đinh vào thập giá.
Dấu ấn của thập giá đã trở nên dấu ấn tối ưu của Ki-tô hữu trên thế giới. Trên đó người Ki-tô hữu chiêm ngắm vị Thiên Chúa đã chọn vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.
Đức Ki-tô và Ki-tô hữu đã không sáng chế ra biểu tượng có dạng thập giá được tôn vinh từ Đông sang Tây và là khổ hình độc ác nhất. Họ chỉ tạo cho nó thành địa điểm để Thiên Chúa siêu vời thấm nhập vào mầu nhiệm cô đơn của con người. Đức Giê-su bị đóng đinh trên đó đã mời gọi một cách độc đáo những kẻ từ nay có thể nhìn ngắm Người – Người từ đỉnh núi thánh gọi những kẻ đang ở đáy vực cuộc sống – nhìn ngắm Người, hoặc như gương mẫu tuyệt hảo của tận hiến và yêu thương, hoặc như dấu chỉ của tận hiến và yêu thương.
Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
A. Phân tích (Hạt giống...)
Chúa Giêsu tiên báo cho các môn đệ hay Ngài sẽ chịu nạn chịu chết và sống lại. Nghe thế Phêrô vì đã ngăn cản Ngài. Sau khi quở trách Phêrô, Chúa Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường Thập giá mà Ngài sắp đi cũng là con đường mà bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải đi theo: “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”
Khi giải thích ý nghĩa con đường thập giá ấy, Chúa Giêsu đưa ra một nghịch lý: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”.
B. Suy niệm (... nẩy mầm)
1. “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”: Chúa không ép tôi theo Ngài, Chúa không buộc tôi bỏ mình và vác thập giá. Ngài chỉ mời tôi thôi và cho tôi tự do. Nếu tôi muốn theo thì hãy bỏ mình và vác thập giá, nếu không thì thôi.
Nhưng vì thương tôi, nên Ngài cho biết những sự lợi hại: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”, và “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình thì được ích gì ?”
2. Chúa không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thoát khỏi thập giá trong cuộc sống (…) Đau khổ không là một đày đoạ mà con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên thánh. Mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang chịu một đau khổ nào đó. Ước gì khổ đau thanh luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hiệp với Chúa mật thiết hơn ("Mỗi ngày một tin vui")
3. Nơi nào có thập giá, nơi đó có Thiên Chúa.
4. Hai cách đi theo Chúa:
Chính Thánh Don Bosco đã tưởng tượng chuyện sau đây: Một hôm Chúa Giêsu bảo Phêrô và Gioan theo Ngài lên núi. Ngài dặn mỗi ông mang theo một hòn đá. Phêrô suy nghĩ một lúc rồi nhặt một hòn đá nhỏ bỏ vào túi ; còn Gioan, do lòng quảng đại, vác cả một tảng đá to. Dĩ nhiên, đường dài, vác nặng, Gioan thở hổn hển và lên đến nơi sau cùng. Phêrô bước thảnh thơi và còn nói với Gioan: “Sao anh nhọc công vác tảng đá to như thế!”. Tới nơi, Chúa Giêsu bảo hai môn đệ ngồi xuống. Ngài đọc lời chúc tụng và biến hai viên đá thành bánh. Dĩ nhiên, Phêrô chỉ được một chiếc bánh nhỏ xíu không đủ cho cơn đói cồn cào của ông.
Lần khác, Chúa lại bảo hai ông theo Ngài lên núi và cũng mang theo đá. Rút kinh nghiệm lần trước, Phêrô mang một tảng đá thật to. Đến nơi, ông ngồi chờ phép lạ. Nhưng Chúa Giêsu chỉ nói “Nào, mỗi người hãy ngồi lên tảng đá mà mình mang theo. Không phải lúc nào Thầy cũng biến đá thành bánh đâu”. Rồi Ngài nói riêng với Phêrô: “Lòng quảng đại thật không phải là lòng quảng đại tính toán”.
Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, và không chờ một phần thưởng nào khác hơn là biết mình đã làm theo ý Chúa. (Chờ đợi Chúa)
5. “Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được mạng sống ấy.” (Mt 16,25)
Thượng úy Tô Đức Thắng, người mới được đài truyền hình VTV1 ca ngợi về lòng can đảm, hy sinh quên mình vì những người hàng xóm. Vừa thấy tên cướp có súng vượt rào vào nhà bà hàng xóm, anh đuổi theo không chút sợ hãi, đồng thời báo cho những công an khác. Anh đã bị thương vì trúng đạn. Anh đã quên đi sự an bình của mình để lo an bình cho người khác. Ngay lúc ấy, anh đã thể hiện trọn vẹn con người và phẩm chất của mình. Phẩm chất ấy, ai cũng phải trân trọng.
Chính lúc hủy mình ra không, Chúa Giêsu cho thấy Ngài là thế đó, là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã hủy mình vì Tình yêu, tình yêu với Cha và tình yêu với con người.
Lạy Chúa, xin dạy con hiểu được: Chính lúc quên mình là lúc con gặp lại được bản thân, vì khi cho đi là lúc con nhận lãnh. (Hosanna)
6. “Thánh giá là một dấu chỉ, một lời mời gọi và một mặc khải:
- Dấu chỉ rằng Chúa yêu thương ta
- Lời mời gọi ta hãy yêu thương như Chúa
- Và mặc khải rằng đã yêu thì nhất thiết phải chịu khổ” (Góp nhặt)
Suy niệm (Giuse Đinh Lập Liễm)
NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM CHÚA TRAO
A. DẪN NHẬP +++
Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta đã trở thành Kitô hữu. Từ ngữ “Kitô hữu” có nghĩa là người thuộc về Chúa Kitô hay người được mang danh Chúa Kitô. Đã là Kitô hữu thì phải theo Chúa Kitô. Theo ở đây không phải chỉ tuyên xưng Ngài là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” như thánh Phêrô đã tuyên xưng. Theo Chúa không phải là chỉ chấp nhận giáo lý của Ngài, cũng không phải chỉ thực hành một số tục lệ và nghi lễ do tôn giáo ấn định, như đi xe dự lễ và lãnh nhận các bí tích.
Theo Chúa là phải chấp nhận một số điều kiện khắt khe như Ngài đã đề ra và mời gọi: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Như vậy, ai muốn làm môn đệ Chúa Kitô thì phải từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình trong cuộc sống hằng ngày. Đây là điều kiện khắt khe và quyết liệt đòi chúng ta phải nỗ lực không ngừng, nhưng nó sẽ dẫn ta tới sự sống đời đời.
Như chúng ta thường nghe và cũng đã nói cái quí giá nhất của con người là sự tự do, nhưng kèm theo nó như hình với bóng còn có một điều hết sức quan trọng và mang đầy tính chất mạo hiểm: đó là sự lựa chọn theo nhận thức của mỗi người. Chính vì sự lựa chọn này khiến con người phải chịu trách nhiệm về hậu quả của hành động mình. Do đó, khi dùng tự do có ý thức để lựa chọn, con người phải cân nhắc lựa chọn, theo đúng nguyên tắc luật lệ chính đáng, luân thường đạo lý và lương tâm ngay thẳng mới có thể tránh khỏi những sai lầm tai hại về tinh thần lẫn thể xác. May mắn thay cho chúng ta là những Kitô hữu, vì chúng ta đã có Chúa hướng dẫn, ơn Chúa soi sáng giúp chúng ta dễ dàng trong việc chọn lựa.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Gr 20,7-9
Tuy Giêrêmia là con người nhút nhát, nhưng Thiên Chúa cũng gọi ông làm tiên tri, để tuyên bố những lời chói tai mà người ta gọi ông là “nhà tiên tri loan tin dữ”. Sứ mạng của ông gặp nhiều khó khăn: người ta chống đối, chế nhạo ông, thậm chí còn lên án ông nữa, vì ông công kích cuộc sống tội lỗi của họ, lại còn loan báo án phạt của Thiên Chúa. Bị đau khổ tư bề, nhiều lần ông đã định bỏ cuộc, nhưng dù sao, ông cũng phải thú nhận là ông không thể nào từ bỏ sứ mạng đau khổ đó, vì “Chúa đã quyến rũ được con, Chúa đã hùng mạnh hơn con và đã thắng con”.
+ Bài đọc 2: Rm 26,21-27
Lời khuyên nhủ của thánh Phaolô đối với tín hữu Roma cũng giống như lời Chúa Giêsu kêu gọi trong bài Tin mừng hôm nay: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Người theo Chúa là người từ bỏ cách sống theo thời của mình, và hơn nữa là từ bỏ chính mình, tự hiến toàn thân cho Chúa như một của lễ sống động dâng cho Chúa, giống như chủ tế dâng của lễ lên Thiên Chúa trong thánh lễ.
Thánh Phaolô cho biết: làm như thế là một việc rất đẹp lòng Chúa, và đó chính là việc phụng thờ hợp lý và đáng trân trọng nhất.
+ Bài Tin mừng: Mt 26.21-27
Đây là lần đầu tiên, Chúa Giêsu báo cho các môn đệ biết là Ngài phải chịu bắt bớ, chịu chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Lời tiên báo này làm cho các môn đệ bỡ ngỡ, không hiểu nổi vì các ông vẫn còn cái nhìn và sự hiểu biết của con người, đến nỗi thánh Phêrô phải phản đối. Nhưng Chúa gạt ý kiến này đi và cho các ông biết chính các ông cũng sẽ phải đi theo con đường của Ngài.
Những ai muốn làm môn đệ của Ngài thì phải chấp nhận đi theo con đường của Ngài, con đường đó đòi hai điều kiện căn bản: - Điều kiện thứ nhất là từ bỏ chính mình.
- Điều kiện thứ hai là vác thập giá của mình.
Ai thi hành hai điều kiện đó sẽ được phần thưởng: “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên sứ của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Nếu muốn theo Chúa
I. LỜI CHÚA MỜI GỌI
Sau khi các môn đệ đã tuyên xưng cách rõ ràng Ngài là Đấng Thiên Sai: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các ông biết: “Ngài sẽ phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và luật sĩ gây ra, bị giết chết, rồi ngày thứ ba sẽ sống lại”. Ở đây có nghĩa là Chúa Giêsu mở ra một giai đoạn mới, trong giai đoạn mới này Chúa muốn mạc khải về mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Ngài. Quả vậy, đây là lần thứ nhất trong ba lần (Mt 16,21; 17,22; 20,17) Ngài báo về mầu nhiệm đó. Mỗi lần loan báo như đánh dấu một chặng đường tiến về Giêrusalem. Việc loan báo như vậy cũng là để chuẩn bị đức tin cho các môn đệ có thể đương đầu với cuộc khủng hoảng sắp tới, khi Ngài bước vào cuộc tử nạn và phục sinh.
Vì thế, Chúa đã tuyên bố rõ ràng: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.
Trông thấy trước con đường khó khăn đang trải ra trước mặt các môn đệ, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải dứt khoát lập trường là có muốn theo Ngài nữa hay không? Câu hỏi và lời mời gọi này nêu lên tinh thần tự do đáp trả của con người hơn là sự đòi hỏi của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do mà Ngài đã trao ban cho con người như một món quà độc đáo và quí báu nhất.
THEO ở đây không có nghĩa là chỉ chấp nhận giáo lý của Ngài, không phải chỉ là mang tên môn đệ của Ngài, mà có nghĩa là bước theo chân Ngài, gắn kết với Ngài, lấy Ngài là làm lẽ sống “sự sống của tôi là Đức Kitô”, giống như cô gái theo một chàng trai. Cô nàng phó thác con người mình cho chàng, cùng chung số phận với chàng, sống chết với chàng, không khó khăn nào có thể làm cho họ lìa bỏ nhau: Đi đâu cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam (Ca dao).
Trong lời mời gọi của Chúa Giêsu, chúng ta nên để ý đến hai từ “NẾU” và “THÌ”. Khi dùng chữ “nếu” thì luôn luôn giả thiết lời mời gọi ấy hoàn toàn có tính cách tự do, tự nguyện, muốn theo cũng được, không theo cũng được. Nếu không theo thì thôi, còn nếu đã theo là phải bắt buộc dùng chữ “thì”, vì đây là điều kiện bắt buộc, không có không được.
II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA
Phân tích lời kêu gọi của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài đưa ra hai điều kiện cho bất cứ ai, các môn đệ hay chúng ta, muốn làm môn đệ của Ngài phải thi hành: - Từ bỏ chính mình.
- Vác thập giá mình.
1. Từ bỏ chính mình
Đây là phương diện tiêu cực của việc theo Chúa. Quả vậy, muốn theo Chúa thì phải khước từ tất cả những cản trở bên ngoài như tha nhân, xã hội, tạo vật... và do bên trong như chính bản thân mình là các khuyết điểm, thói hư tật xấu, tội lỗi...
Đức Thánh Cha Phaolô VI trong buổi triều yết chung cho giáo dân ngày 11.03.1970 đã nói: “Đối với chúng ta những người thời nay, một trong những khía cạnh ít được hiểu biết nhất và cũng có thể nói ít được thiện cảm nhất trong đời sống Công giáo: đó là sự từ bỏ”.
Từ bỏ mình tức là từ bỏ ý riêng mình mà chấp nhận thánh ý Chúa. Người ta nói: 3 với 4 là 7, có đúng không? Chưa đúng. Muốn thực hiện 3 với 4 là 7 thì phải làm sao cho tan rã hai con số 3 và 4, rồi đúc nó lại thành con số 7 mới được. Chớ cứ để 3 với 4 kề nhau mãi thì làm gì thành 7 được, mà vẫn là 3,4. Cũng thế, muốn từ bỏ chính mình là phải làm tan rã ý riêng của ta cho hoà vào ý Chúa, lúc đó chúng ta mới thực sự là từ bỏ chính mình.
Một hình ảnh nữa để chúng ta suy nghĩ: Quan sát các nhà điêu khắc tạc tượng, họ chọn một phiến đá cẩm thạch, rồi họ kiên nhẫn đục đẽo, khoét dần mài đi, cho tới khi thành một cỗ tượng mỹ thuật. Không bao giờ thấy nhà điêu khắc lại đắp thêm vào. Cũng thế, trong việc từ bỏ mình, chúng ta phải dẹp lòng ham muốn, để mình sống xã thân thuộc trọn về Chúa.
Chúng ta phải cố thi hành việc đục khoét bỏ bớt những gì bận rộn không cần thiết, gạt chúng ra một bên, nếu có bận tâm thì chỉ bận tâm vào việc nhà Chúa: “Sự sốt sắng việc nhà Chúa làm tôi hao tổn tinh thần” (Tv 68,10). (Lm. Nguyễn Duy Phượng, Thực yêu thanh bần, 1967, tr 124-125)
Truyện: Thánh Têrêsa chịu đựng
Trong cuốn “Một tâm hồn”, thánh nữ Têrêsa Hài đồng có kể: “Hai chúng con giùng giằng lèo xèo làm cho mẹ Bề trên (đang liệt bệnh) mở mắt thức dậy, thế là mọi lỗi đổ cả lên đầu con. Chị kia liến thoắng nói một thôi dài, mà đại ý chỉ có thế này: Chính là tại Têrêsa Hài đồng đã làm om sòm. Nóng mặt, con muốn cãi lại ngay... Nhưng con bảo mình: nếu mà cãi phải cho mình bây giờ, chắc sẽ mất sự bằng an trong lòng. Đàng khác, vì còn kém nhân đức lắm, nên con đã không thể đứng yên để nghe chị ấy đổ tội cho mà không thưa lại một vài lời cho ra nhẽ, con liền tính kế “Dĩ đào vi thượng sách” (Trích Một tâm hồn, tr 40-41). Nghĩ xong, con lủi đi như con cuốc... nhưng vì trái tim quá hồi hộp thổn thức không thể bước đi xa được, chân như rủn ra, con phải cưỡng bách ngồi xệp xuống chân thang, để được bình tĩnh tạo hưởng cái thú không chiến mà thắng.
2. Vác thập giá mình
Đây là khía cạnh tích cực của việc theo Chúa. Quả vậy, theo Chúa thì phải nỗ lực, cố gắng trong việc sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin mừng trong sự chịu đựng và kiên trì.
Thập giá thường là dấu chỉ của khổ hình ô nhục, xưa kia quân Roma dùng nó để đóng đinh những tội phạm nô lệ và tiện dân phạm trọng tội đối với đế quốc. Nhưng đối với người Hy lạp, thập giá trở thành hoa văn xinh đẹp trang hoàng trên các lâu đài sang trọng. Đối với người Ai cập, thập giá tượng trưng cho sự bất tử. Những người thám hiểm Tây Ban Nha đã khám phá thấy thập giá nơi thổ dân Trung Mỹ xưa là biểu tượng của thần mưa ân phúc. Các nước Tiểu Á và Đông Á vẽ thập giá hình chữ vạn hay chữ thập tượng trưng trời chiếu sáng khắp bốn phương.
Nhìn chung, nhân loại phân chia thập giá làm hai thứ: một thứ thập giá nhục hình tử tội đen tối, một thứ thập giá vinh quang sáng ngời. Cả hai đều mang dấu vết thương đau khác nhau: một đàng thương đau xấu xa tiêu diệt, nên gọi là KHỔ GIÁ, một đàng thương đau để được sống trường sinh nên được gọi là THÁNH GIÁ.
Trong đời sống Kitô hữu. ai cũng phải vác thập giá, vì không ai có thể trốn tránh được đau khổ. Đau khổ chính là thập giá chúng ta phải vác hằng ngày. Công việc chúng ta là phải vác như thế nào: tự nguyện hay miễn cưỡng? Theo kinh nghiệm của chúng ta và cũng là của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu, nếu ai vác bổng thánh giá lên thì sẽ thấy nó nhẹ, còn ai vác uể oải hay kéo lê thì thánh giá sẽ trở nên nặng nề… Tuy nhiên, Thiên Chúa biết sức chịu đựng của từng người, có người Chúa trao cho thánh giá nặng, có người Chúa trao cho thánh giá nhẹ, nhưng thánh giá nào cũng vừa sức cho mỗi người. Truyện: Thánh giá vừa sức mình
Thánh giá ta đang mang là thánh giá vừa sức ta. Câu chuyện ngụ ngôn dưới đây chứng minh điều đó: có một người luôn than van những nỗi khổ cực của mình. Một tối kia, thiên thần hiện đến phán bảo:
- Con hãy theo ta ra nghĩa địa, nơi đó người ta để lại thánh giá của mình. Con hãy mang thánh giá của con ra để đó và hãy lựa thánh giá vừa sức con.
Ông ta mang thánh giá của mình ra quăng nơi nghĩa địa, ông bắt đầu chọn cái khác nhẹ hơn, ông tìm kiếm mãi mà không được: có cây quá là dài, cây quá ngắn, có cây thì nhẹ nhưng sù sì, khó vác, có cây thì trơn tru nhưng nặng quá, và sau cùng ông nói với thiên thần:
- Thưa thiên thần, cây nào cũng khó vác quá, chỉ có cây con định vứt đi là vừa với con thôi.
- Phải, Chúa đã trao cho con một cây thánh giá vừa sức, con hãy vui lòng vác đi, đừng than van gì nữa.
III. THEO CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY
Qua bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội muốn nhắc nhở chúng ta cần phải nhìn rõ vào gương tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, để can đảm và sẵn sàng từ bỏ mình và vác thập giá mình mà sống theo Chúa trong cuộc sống hằng ngày.
Tại sao Chúa bảo chúng ta: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Bởi vì thánh Mátthêu viết sách này vào khoảng năm 80-90 SC, nghĩa là ông viết vào những ngày cay nghiệt nhất. Những lời này có ý nói rằng: “Đã đến lúc người có thể cứu mạng sống mình bằng cách chối bỏ niềm tin, nhưng như thế thì chẳng những không cứu được mạng sống mình theo đúng nghĩa thật sự mà là đánh mất nó”. Người giữ lòng trung tín có thể chết, nhưng chết để mà sống. Còn người bỏ đức tin mình để được an thân, thì có thể sống nhưng sống để mà chết. Trong thời đại chúng ta, không có những cuộc cấm đạo khắt khe như thế, nhưng của cải vật chất, chức quyền, danh vọng... có thể làm cho chúng ta chết mà mất linh hồn.
Chúng ta thấy có mối tương quan biện chứng giữa “mất đi” và “được lại”. Người Kitô hữu chỉ thực sự hạnh phúc, khi dám mất đi cái tạm bợ, để được lại cái vĩnh hằng, dám mất đi cái mau qua, để được cái trường tồn. Người Kitô hữu chỉ thực sự khôn ngoan, khi sẵn lòng “mất đi” sự sống hay chết, để “được lại” sự sống đời đời. Và Chúa Giêsu đã kết luận bài giáo huấn của Ngài bằng những lời này: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì”.
Đứng trước thập giá, đứng trước đau khổ, chúng ta không thể hiểu, không thể cắt nghĩa được vì đó là mầu nhiệm. Cuối cùng, tất cả những gì chúng ta có thể làm khi gặp đau khổ là tín thác vào Chúa Giêsu, Đấng đã phán: “Bất cứ ai chấp nhận mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được sự sống ấy”. Trong cuộc sống, người ta luôn gặp thập giá, đau thương, gian nan thử thách... Tất cả những cái đó có thể làm nên những điều có lợi cho chúng ta.
Truyện: Biến bại thành thắng
Người ta kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: trong một khu rừng có một con hổ lớn và dữ tợn. Lũ khỉ ghét con hổ này lắm. Một ngày kia, chẳng may, con hổ bị sa xuống hố do người thợ săn đào sẵn. Không còn cách nào thoát thân, con hổ chỉ còn biết ngồi chờ thần chết đến.
Lũ khỉ đi qua thấy thế mừng lắm, chúng chế diễu và thay nhau lấy đá, lấy đất và bẻ các cành cây ném xuống đầu con hổ cho bõ ghét. Con hổ chỉ còn biết ngồi chịu trận, không còn biết làm cách nào khác. Thấy thế, lũ khỉ thích chí càng ném hăng, ném mãi không chán, nhưng không ngờ, chính những hòn đá, cành cây vứt xuống nhiều quá, làm cho hố cứ đầy dần lên, đến nỗi con hổ có thể nhờ đó mà nhảy ra ngoài hố được.
Đời là thế. Đau khổ cũng có ý nghĩa riêng của nó. Người ta nói: cái khó bó cái khôn. Nếu ta biết từ bỏ mình, vác thập giá mình thì chính những cái ấy có lợi cho ta. Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm về vấn đề này: Thập giá đã nói lên chân lý ấy, và “hạt giống có mục nát ra thì mới sinh hoa kết quả được”. Có lẽ chúng ta không bao giờ hiểu được mầu nhiệm của đau khổ trong thế giới này, nhưng đây là điều chắc chắn: Một khi về trời chúng ta sẽ hiểu được điều ấy.
Có một bài thơ cổ của một tác giả vô danh. Bài thơ mang tựa đề “The Folded Page” (Trang sách bị gấp nếp). Sau đây là một đoạn trong đó: “Trên căn gác một nhà xưa cổ,
Khi hạt mưa từ mái nhà đổ xuống,
Tôi ngồi đó lật từng trang tập cũ.
Bỗng nhận ra một trang bị gấp nếp,
Ghi dòng chữ của mình hồi nhỏ:
“Thầy giáo bảo: tạm bỏ qua điều này,
Vì hiện tại nó rất ư khó hiểu”.
Tôi liền mở nó ra và đọc,
Đoạn mỉm cười và gục gặc đầu nói:
“Thầy có lý, bây giờ tôi mới hiểu”.
Trong cuộc đời có nhiều trang khó hiểu
Ta chỉ việc gấp lại và viết lên:
“Thầy giáo bảo: tạm bỏ qua điều này
Vì hiện tại nó rất ư khó hiểu”.
Rồi một ngày nào đó trên Nước trời,
Mở trang cũ ra đọc lại ta sẽ nói:
“Thầy giáo có lý, bây giờ tôi mới hiểu”.
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Suy niệm (Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)
Mt 16,21-27
TƯ TƯỞNG CỦA THIÊN CHÚA
“Lối nghĩ của anh không phải là lối nghĩ của Thiên Chúa,
mà là lối nghĩ của loài người” (Mt 16,23).
Thầy Giêsu đã mắng anh Phêrô như thế
khi anh muốn can ngăn Thầy chấp nhận cuộc Khổ nạn.
Lời can ngăn của Phêrô là một cám dỗ rất mạnh đối với Thầy,
vì đó là lời can ngăn của người môn đệ đầy mến thương:
“Xin Thiên Chúa thường đừng để Thầy gặp chuyện ấy !”
Để thắng được cơn cám dỗ mạnh mẽ này, đến từ Phêrô,
Thầy Giêsu đã phản ứng mạnh mẽ không kém.
Ẩn sau lời của Phêrô, Thầy thấy có lời đường mật của Xa-tan,
lời mà Thầy đã nghe từ buổi đầu trong hoang địa.
Xa-tan đã rủ rê Thầy bái lạy nó để được mọi vinh hoa trần gian.
Nó muốn Thầy chinh phục thế gian bằng con đường tắt (Mt 4,9).
Thầy Giêsu đã cương quyết bảo nó cút đi.
Và bây giờ Thầy cũng đòi Phêrô trở về đúng chỗ của mình.
“Hãy lui lại đằng sau Thầy !”
Môn đệ phải là người đi sau Thầy, chứ không dẫn đường đi trước.
Thật ra Phêrô can ngăn Thầy là điều hiểu được.
Ông mới được Thầy khen, vì nhờ Chúa Cha, ông biết Thầy là Đấng Kitô.
nhưng khuôn mặt đặc biệt của Đấng Kitô ấy, ông chưa rõ.
Từ thời vua Đa-vít, Thiên Chúa đã hứa ban cho Ítraen một Đấng Kitô.
Đấng này sẽ là một vị vua thuộc nhà Đa-vít,
mà vương quyền và ngai vàng thì vĩnh cửu (2 Sm,11-16).
Trải qua cả ngàn năm, dân Ítraen vẫn chờ Thiên Chúa giữ lời hứa.
Vào thời Đức Giêsu, người dân vẫn mong có Đấng Kitô đến
để cứu Ítraen khỏi tay Rôma, và cho dân hưởng thái bình no ấm.
Ai cũng nghĩ Đấng Kitô phải là Đấng toàn thắng, mạnh mẽ oai hùng,
nên khi nghe Thầy Giêsu nói về thân phận khổ đau thất bại của mình,
Phêrô đã cho thấy ông không thể nào chấp nhận được (Mt 16,22).
Ông không thể chấp nhận hình ảnh Đấng Kitô bị hành hạ và bị giết.
“Lối nghĩ của anh không phải là lối nghĩ của Thiên Chúa” (Mt 16,23).
Kế hoạch của Thiên Chúa vượt trên lối nghĩ của loài người.
Đức Giêsu Kitô không chỉ cứu dân Ítraen, mà cứu cả nhân loại.
Ngài không cứu họ khỏi nô lệ Rôma, nhưng cứu khỏi nô lệ tội lỗi.
Ngài không cứu độ bằng chiến thắng, nhưng bằng thất bại và cái chết.
Qua đó, Ngài hiên ngang bước vào vinh quang vĩnh cửu (Mt 16,27).
Ngài không phải chỉ là một người được Thiên Chúa xức dầu và sai đi,
Ngài còn là chính Thiên Chúa Ngôi Lời làm người.
Điều Thiên Chúa thực hiện vượt xa những gì Ngài đã hứa.
Ngài làm trọn lời hứa một cách khó hiểu và lạ lùng.
“Sự phong phú, khôn ngoan và tri thức của Chúa sâu thẳm biết bao!
Quyết định của Người khôn dò khôn thấu” (Rm 11,33).
Thầy Giêsu muốn các môn đệ thuộc mọi thời đại
tiếp tục đi sau Thầy, chia sẻ cùng một thân phận như Thầy,
từ bỏ mình, vác thập giá mình, mất mạng sống mình vì Thầy,
coi cả thế gian nhẹ hơn cuộc sống đời sau.
Họ không lùi bước trước khổ đau, nhục nhã và cái chết,
vì họ tin Thầy đã được phục sinh và sẽ lại đến trong vinh quang
để thưởng phạt từng người tùy theo việc họ làm (Mt 16,27).
Lạ lùng thay con đường Thầy Giêsu và bao thế hệ môn đệ đã đi !
Chỉ mong chúng ta đừng nghĩ theo kiểu thường tình con người,
nhưng mỗi ngày chấp nhận sống những nghịch lý của Thiên Chúa.
CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu,
sống cho Chúa thật là điều khó,
thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
Chúa đòi con cho Chúa tất cả
để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.
Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa
để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà
để cây đời con sinh thêm hoa trái.
Chúa cương quyết chinh phục con
cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.
Xin cho con dám ra khỏi mình,
ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan
để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,
dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con cảm nghiệm được rằng
trước khi con tập sống cho Chúa, và thuộc về Chúa,
thì Chúa đã sống cho con,
và thuộc về con từ lâu.
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Khi nhắc đến ông Leonardo da Vinci, chúng ta thường nghĩ đến những phát minh khoa học và những bức họa nổi tiếng của ông. Chúng ta không biết rằng để giải trí ông Leonardo de Vinci còn sưu tầm những chuyện cổ tích hoặc đặt ra những câu chuyện vui sau đây về một cuộc đối thoại tưởng tượng giữa một tờ giấy trắng và cái bút:
Tờ giấy trắng từ lâu nằm ù lì trên bàn giấy cùng với những đồng bạn khác, nhưng bỗng nó được chọn đem ra nằm giữa bàn và chịu cảnh cây viết mực đen ngòm vẽ lên nó không biết bao nhiêu là dấu hiệu mà nó không hiểu gì cả. Nó phàn nàn với cái bút như sau:
- Tại sao anh lại làm thế ? Anh vẽ trên mình tôi những dấu đen làm mất đi sự trong trắng ban đầu. Anh làm nhục tôi như thế này sao ? Anh làm hư cả cuộc đời tôi rồi.
Nhưng cái bút trả lời:
- Không đâu anh giấy ạ, anh hiểu lầm tôi rồi. Tôi không bôi đen anh đâu, tôi vẽ lên anh những dấu hiệu, những dòng chữ kể từ nay anh không còn là tờ giấy vô dụng nữa, nhưng có mang trên mình những sứ điệp. Anh trở thành kẻ cộng tác với con người. Lưu giữ những tư tưởng cao siêu. Và vì thế được con người nâng niu, bảo vệ. Anh sẽ được sống mãi để trợ giúp cho con người.
Tờ giấy chưa kịp trả lời cái bút thì nó bỗng nhìn thấy một bàn tay người quơ lấy những tờ giấy khác, trước kia trắng tinh nay đã đổi màu, đầy bụi mà quăng vào ngọn lửa bên cạnh. Tờ giấy bị vẽ trên mình những lằn mực đen kia mới hiểu được hành động của cái bút và lấy làm sung sướng, vì được trở thành như người cộng tác lưu giữ trong kho tàng trí khôn con người (R.Veritas, Mạch nước trường sinh, tr 52).
Suy niệm
Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ, đồng thời cũng nói với mọi người chúng ta, người tin theo Ngài như môn sinh: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Mối tình thâm sâu của người môn sinh Chúa Giêsu được biểu tượng bằng hình ảnh thập giá, chính thập giá liên kết vận mệnh của môn đệ với vận mệnh của chính Thầy: Thầy sao trò vậy, như Chúa Giêsu đã từng quả quyết: “Môn sinh không hơn Thầy”, Thầy vác thập giá, trò cũng mang thập tự. Như lời Chúa mời gọi các môn đệ, chúng ta cũng được mời gọi đi theo bước chân Ngài: Bước đầu là từ bỏ và vô hiệu hóa những ràng buộc chính mình với thế gian, để được tự do thanh thoát dưới ân sủng của Thánh Linh và tình yêu, bước tiếp những bước đi mới, những bước đi huyền nhiệm thập giá để có thể tiếp nhận khổ đau và cái chết theo kế hoạch và tình yêu của Chúa Cha, như Thầy đã bước đi trong hành trình thập giá tiến về đồi Canvê. Trong thập giá, khám phá ra sự phục sinh vinh quang, mà Thầy Giêsu đã khai mở bằng sự phục sinh của chính Ngài khi bước qua thập tự.
Hình ảnh đó được ẩn dụ dưới hình ảnh chim cú đã phát triển được đôi mắt sáng nhờ “bị” đẩy vào bóng đen. Chính trong bóng tối, chim cú được khai mở khả năng thấy sáng của mình và bóng đêm không thể khuất phục được sức sống của chim cú ngay trong đêm. Hình ảnh chim cú sáng mắt trong đêm tối là biểu tượng của sự khám phá ra nét công hiệu của những “mũi tên ngược” trong cuộc sống của kiếp nhân sinh, cách đặc biệt của đời sống niềm tin đó là những thập giá mà chúng ta mang qua những thử thách, với những chén đắng mà chúng ta uống xuyên qua những nghịch cảnh xảy đến trong cuộc sống. Thập giá và chén đắng này làm bừng sáng con mắt đức tin và khai mở con mắt tình yêu nơi người sống trong huyền nhiệm thập giá. Chính họ có một nhãn quan mới nhìn vào cuộc sống với biết bao nhiêu biến động có thể mang dáng dấp của bóng tối.
Trong thập giá tình yêu trở nên hy lễ sống động: Hy lễ tình yêu mà Chúa Giêsu dâng tiến lên Chúa Cha để đền tội cho nhân loại. Hy tế đó luôn kéo dài trong lịch sử và mời gọi mọi người chúng ta bằng sự đóng góp của bản thân tham dự vào hy tế qua cuộc sống được thánh hóa dưới thập giá, như tâm tình thánh Phaolô khuyên tín hữu thành Rôma “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).
Hãy cùng lên Giêrusalem để vác thập giá theo Chúa là lời mời gọi từ bỏ những thực tại hào nhoáng phù du lôi kéo con người đi vào thế gian với vỏ bọc an toàn tạm bợ “được cả thế giới”, nhưng lại đánh mất chính mình, mất tư cách bạn hữu, mất tư cách môn sinh. Từ bỏ tất cả để vác thập giá tiến lên Giêrusalem, để tôi và bạn được như thánh Phaolô: “Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô” (Pl 1,21) và “biết Đức Kitô là một mối lợi” (Pl 3,8). Khám phá ra thập giá trong đời mà mỗi chúng ta mang và tiến đến đồi Canvê với một tinh thần “vượt qua” mang tình yêu Thiên Chúa.
Nơi thập giá, Ngài mời gọi tôi và bạn cùng xốc vác cuộc đời, trong đó có cái tôi của tài năng, thánh thiện, nhưng cũng có sự khiếm khuyết, bất toàn, đau khổ, thử thách… Ngài không ngừng cứu thoát chúng ta, và chúng ta vác thập giá là cùng Ngài chiến đấu như lời mời gọi của thánh Phaolô: “Anh em hãy cùng tôi chiến đấu...” (Rm 15,30).
Từ bỏ mình vác thập giá và nhờ đó mà thập giá của tôi và bạn trở nên hy lễ tình yêu, để xứng đáng tham dự vào hiến tế sống động của Chúa Kitô trên thập giá.
Ý lực sống
“Vinh dự của tôi là thập giá” (Gl 6,14).
Suy niệm (song ngữ)
22nd Sunday in Ordinary Time
Reading I: Sir 3:17-18,21b,22-27 II: Hebrews 12:18-19,22-24a
Chúa nhật 22 mùa Thường niên
|Bài Đọc I: Hc 3:17-18,21b,22-27 II: Dt 12:18-19,22-24a
Gospel
Luke 14:1,7-14
1 On a sabbath he went to dine at the home of one of the leading Pharisees, and the people there were observing him carefully.
7 He told a parable to those who had been invited, noticing how they were choosing the places of honor at the table.
8 “When you are invited by someone to a wedding banquet, do not recline at table in the place of honor. A more distinguished guest than you may have been invited by him,
9 and the host who invited both of you may approach you and say, 'Give your place to this man,' and then you would proceed with embarrassment to take the lowest place.
10 Rather, when you are invited, go and take the lowest place so that when the host comes to you he may say, 'My friend, move up to a higher position.' Then you will enjoy the esteem of your companions at the table.
11 For everyone who exalts himself will be humbled, but the one who humbles himself will be exalted.”
12 Then he said to the host who invited him, “When you hold a lunch or a dinner, do not invite your friends or your brothers or your relatives or your wealthy neighbors, in case they may invite you back and you have repayment.
13 Rather, when you hold a banquet, invite the poor, the crippled, the lame, the blind;
14 blessed indeed will you be because of their inability to repay you. For you will be repaid at the resurrection of the righteous.”
Phúc Âm
Luca 14:1,7-14
1 Một ngày sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người.
7 Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn chỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này:
8 “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời,
9 và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này”. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối.
10 Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: “Xin mời ông bạn lên trên cho”. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn”.
11 Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
12 Rồi Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi.
13 Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù.
14 Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”.
Interesting Details
• This is the last of the six accounts of Jesus' activities on the Sabbath in Luke. The Sabbath has been a cause of conflict stories with the Pharisees before. (4:16-30; 4:31-37; 6:1-5; 6; 6-11; 13:10-17).
• The setting of the meals also has been used for other confrontations: washing of hands, eating with sinners... If Jesus eats a meal with a Pharisee on a Sabbath, there surely will be a conflict.
• It was common in the ancient Mediterranean world that a meal is a setting for philosophers and teachers to offer their wisdom. But for Luke, the image of Jesus at table is that of one who accepts and receives all kinds of people.
• First parable. Choosing the lowest place at table could be a common advice on social behavior. However, in Jesus' teaching, the point is not about etiquette but the kingdom behavior, as v.11 makes clear: “... the one who humbles himself will be raised up”.
• Second parable. Hosting can be a way of putting others in your debt, but why put in your debt those who cannot pay ? A banquet is also an opportunity for a host to acknowledge humility. In the kingdom, God is host and who can repay God ?
• Luke's list of the fringe people: the poor, crippled, lame, and blind, also repeated in the next story where the invited guests refuse to come (15-24) - is his list of kingdom people. That has been clear since Mary's song (1:46-55).
• (v.14) Resurrection. The Pharisees, who believe in the resurrection are stung by Jesus' parable. In the confrontation, instead of trapping Jesus, they fell into their own trap.
Chi Tiết Hay
• Phúc Âm thánh Luca có sáu đoạn kể lại các việc Đức Giêsu đã làm trong ngày Sabát. Đây là đoạn sau chót. Ngày Sabát đã nhiều lần là nguyên nhân cho việc chạm trán của Đức Giêsu với các người Biệt Pháị (Xem các đoạn 4:16-30; 4:31-37; 6:1-5; 6: 6-11; 13:10-17).
• Các bữa ăn cũng thường là nơi diễn ra các xung khắc khác về nguyên tắc và lề luật: việc rửa tay trước khi ăn, việc dùng bữa với những người tội lỗi,... Khi một đoạn Phúc Âm kể lại Đức Giêsu dùng bữa với một người Biệt Phái mà lại vào ngày Sabát thì việc đụng độ là điều đương nhiên sẽ phải xảy rạ
• Trong thế giới cổ xưa ở vùng Tiểu Á, các triết lý gia và các nhà thông thái thường dùng khung cảnh một bữa ăn để giảng dạy, truyền bá sự hiểu biết của mình. Nhưng Luca đã dùng khung cảnh này để diễn tả hình ảnh một Đức Giêsu đón nhận tất cả mọi lớp người vào dự một bữa tiệc do Ngài khoản đãị
• Dụ ngôn thứ nhất. Việc lựa chọn chỗ ngồi thấp nhất có thể chỉ là một lời khuyên thông thường về một thái độ lịch sự. Nhưng ở đây, đặc biệt hơn, Đức Giêsu muốn nói đến một đức tính siêu nhiên: đó là sự khiêm nhường “... ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”
• Dụ ngôn thứ haị Mời người khác dự tiệc có thể làm cho họ mắc nợ. Vậy tại sao lại cứ mời những người không có khả năng trả nợ ? Đây là một dịp để Đức Giêsu giảng dạy thế nào là khiêm nhường: Khi Thiên Chúa mời mọi người vào dự tiệc trong vương quốc của Ngài, ai có khả năng trả nợ được cho Ngàỉ.
• Những người được Luca kể ra ở đây cũng sẽ được lập lại trong đoạn Phúc Âm kế tiếp, kể lại sự việc những người được mời dự tiệc nhưng đã kiếm cớ thoái thác. Đó là những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Những người mà Đức Mẹ Maria đã kể đến trong bài ca Magnificat.
• Ngày kẻ lành sống lạị Những người Biệt Phái tin tưởng vào sự sống lạị Qua câu chuyện này họ chính là những người bị khước từ sự sống đời saụ Tưởng đã giăng được bẫy để bắt lỗi Đức Giêsu, ngờ đâu chính họ lại rơi vào bẫy nàY.
One Main Point
Humility is not a matter of putting ourselves down, but humility is recognizing that we are nourished, gifted by God and then reaching out to others in the same way.
Một Điểm Chính
Khiêm nhuờng không có nghiã là tự coi mình không có giá trị gì. Trái lại, khiêm nhường là nhìn nhận mình được Thiên Chúa nuôi dưỡng bằng những ân sủng, được Ngài ban cho những khả năng chuyên biệt, và rồi biết dùng những món qùa này để phục vụ tha nhân.
Reflections
1. In which way am I nourished and gifted by God ?
2. Out of this gratitude, how have I reached out to others to share what God gives them through me ?
Suy Niệm
1. Tôi đươc Chúa nuôi dưỡng ra sao và ban cho những khả năng nào ?
2. Để tỏ lòng biết ơn, tôi dã chia sẻ thế nào những qùa tặng mà Chúa dã ban cho tôi ?