CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG TỰ HÓA RA KHÔNG
Chuyến đi khứ hồi từ lòng Cha trên Trời (Ga 1,1-18)
qua lòng Mẹ dưới đất (Lc 1,26-38)
xuống tận lòng đất (Mt 22,40)
trước khi trở về trong lòng Cha (Ga 13,1)
Giê-ru-sa-lem, Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót 2021
Linh mục Giuse Nguyễn công Đoan, S.J.
Mục lục
Hành
trình Con Thiên Chúa đến cắm lều giữa chúng ta trong Tin Mừng theo thánh
Gio-an. 3
Hành
trình về trong vinh quang của Cha. 7
Chiến
lợi phẩm của Con Thiên Chúa. 12
Máu. 13
Luật
khắc trong tim.. 18
Sứ mạng
của các tông đồ và các Đấng kế vị trong Hội Thánh của Chúa. 19
WHĐ (17.04.2021) - Năm nay Lễ Truyền Tin – mừng
bước khởi đầu của mầu nhiệm Nhập Thể mà thư Phi-líp-phê 2,6-7 diễn tả là: “Từ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, Người đã
tự hóa ra không, mang lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người
trần thế”, diễn ra ngay trước Lễ Lá, đưa chúng ta vào Tuần Thánh, để chiêm
ngắm, cảm nghiệm, theo Người xuống tận đáy của chuyến đi xuống rồi theo Người
trong chuyến trở lên vinh quang trong lòng Cha. Đây là chuyến đi khứ hồi của
Con Thiên Chúa thi hành sứ mạng vì chúng ta:
“Vì loài
người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế...”
Trước hết cũng nên đọc lại đoạn đầu thư Híp-ri
và một dụ ngôn trong sách Tin mừng để giúp chúng ta thấy tại sao Thiên Chúa lại
đi tới chỗ sai chính Con Một Yêu Dấu xuống làm người như lời cuối cùng ngỏ với
loài người chúng ta.
Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta
qua các ngôn sứ ; 2nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa
đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử . Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng
nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. 3Người
là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên
Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật.
Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời. 4Danh
hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao
nhiêu, thì Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu. (Hr 1,1-4).
Đoạn này nói đến địa vị trổi vượt của Con Thiên
Chúa, vượt trên các ngôn sứ và chuyến hành trình “khứ hồi của Người” với sứ mạng
tẩy trừ tội lỗi; đồng thời cho biết đây là thời sau hết của mạc khải, vì Thiên
Chúa đã nói Lời cuối cùng, Thiên Chúa không còn ai khác để sai đến và cũng
không còn lời nào khác để nói với chúng ta.
Người đầu tiên được Thiên Chúa ngỏ lời là
Áp-ra-ham, ông đã tin lời Thiên Chúa, đã không tiếc gì với Thiên Chúa, nên ông
đã thành “bạn” của Thiên Chúa.
Hơn 400 năm sau Thiên Chúa đã nói với dòng dõi
ông qua một người là Mô-sê, nhưng Mô-sê cũng không làm theo đúng ý Thiên Chúa,
tuy Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn dạy dỗ và sử dụng ông để chuyển đạt Luật của Giao
Ước cho dân. Nhưng trí nhớ của họ chẳng bền và các ngẫu thần mà Áp-ra-ham đã từ
bỏ một lần dứt khoát, thì họ vẫn bị hấp dẫn và cũng không nhận Thiên Chúa là
nơi nương tựa duy nhất như tổ phụ Áp-ra-ham, mà vẫn thích dựa vào các thế lực
chính trị chung quanh.
Sách Đệ Nhị
Luật ca tụng Mô-sê: Trong Ít-ra-en,
không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Mô-sê, người mà ĐỨC
CHÚA biết rõ, mặt giáp mặt . 11ĐỨC CHÚA đã
sai ông thực hiện mọi điềm thiêng dấu lạ tại nước Ai-cập, phạt Pha-ra-ô cùng
tất cả bề tôi và cả nước.12 Ông Mô-sê đã biểu dương tất cả
sức mạnh bàn tay ông và gây tất cả nỗi kinh hoàng lớn lao trước mắt toàn thể Ít-ra-en.
(34,10-12)
Thư Híp-ri
không ngần ngại so sánh Mô-sê với Chúa Giê-su để cho thấy Chúa Giê-su hơn hẳn
Mô-sê thế nào:
Do đó, thưa anh em là những người trong dân thánh, những người được hưởng
chung ơn gọi bởi trời, anh em hãy ngắm nhìn Đức Giê-su là Sứ Giả,
là Thượng Tế , là Trung Gian cho chúng ta tuyên xưng đức tin. 2Người
trung thành với Đấng đã đặt Người lên chức vụ đó, cũng
như ông Mô-sê đã trung thành khi thi hành chức vụ đối với toàn
thể nhà Thiên Chúa . 3Như người làm nhà đáng tôn vinh
hơn chính ngôi nhà, thì Đức Giê-su cũng được coi là đáng tôn vinh hơn
ông Mô-sê. 4Quả thật, nhà nào cũng phải có người làm ra,
và Đấng làm ra mọi sự là Thiên Chúa. 5Ông Mô-sê đã
trung thành khi thi hành chức vụ đối với toàn thể nhà Thiên Chúa, với tư
cách là tôi tớ để làm chứng về các điều Thiên Chúa sẽ phán truyền. 6Còn
Đức Ki-tô thì trung thành với tư cách là người Con đứng đầu nhà Thiên
Chúa. Mà nhà Thiên Chúa là chính chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững đến cùng
lòng tin tưởng và thái độ hiên ngang về niềm hy vọng của chúng ta. (Hr 3,1-6).
Tại sao Thiên Chúa đã đi đến giải pháp cuối cùng
là sai chính Con Một đến làm người để nói với chúng ta như lời cuối cùng? Tin Mừng
Mát-thêu cho câu trả lời bằng dụ ngôn
những người làm vườn nho:
Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: “Có gia chủ kia trồng được một
vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho,
và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34Gần
đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35Bọn
tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người
nọ. 36Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn
tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37Sau
cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “Chúng sẽ nể con
ta” 38Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau:
“Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!” 39Thế
là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. 40Vậy
xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” ... (Mt
21,33-38; xin mời đọc tiếp trong sách Tin Mừng)
Trong Tin Mừng thứ tư, lời tựa tả cho chúng ta
cuộc khởi hành từ trong lòng Cha, nơi Người vẫn ở từ đời đời, đến làm người, “cắm lều giữa chúng ta”, với sứ mạng
“kể ra cho chúng ta biết về Cha.”
Để hiểu ý nghĩa hai câu vắn vỏi này, phải so sánh với sách Xuất Hành. Sau vụ “Con
bê bằng vàng” (chương 32), ông Mô-sê có sáng kiến dựng một cái Lều bên ngoài trại:
Ông Mô-sê lấy một chiếc lều và đem dựng cho mình bên
ngoài trại, cách một quãng xa. Ông gọi lều ấy là Lều Hội Ngộ. Ai thỉnh ý ĐỨC
CHÚA thì ra Lều Hội Ngộ, ở ngoài trại. 8Mỗi khi
ông Mô-sê ra Lều, toàn dân đứng lên, ai nấy đứng ở cửa lều mình và
nhìn theo ông Mô-sê cho đến khi ông vào trong Lều. 9Mỗi
khi ông Mô-sê vào trong Lều, thì cột mây đáp xuống, đứng ở cửa Lều,
và ĐỨC CHÚA đàm đạo với ông Mô-sê. 10Khi thấy cột
mây đứng ở cửa Lều, toàn dân đứng dậy; và ai nấy phủ phục ở cửa lều mình. 11ĐỨC
CHÚA đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với
nhau. Rồi ông Mô-sê trở về trại ; nhưng phụ tá của ông là chàng thanh
niên Giô-suê, con ông Nun, thì cứ ở trong Lều, không rời khỏi đó. (Xh 33,7-11). Thiên Chúa chấp nhận sáng
kiến của ông[1].
Suốt dọc sách Tin Mừng thứ tư này, Người nhắc đi
nhắc lại rằng Người từ nơi Chúa Cha đến để thi hành ý muốn của Cha, nói lời của
Cha và làm các việc của Cha. Đó là cách thức Người kể ra cho chúng ta biết về
Cha: Người là sự hiện diện hữu hình của Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha... Những lời Thầy nói với anh em, Thầy
không tự mình mà nói: nhưng Cha ở trong Thầy làm những việc của Người. Hãy tin
Thầy! Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9-11). Trong thư thứ nhất,
thánh Gio-an sẽ nói:
Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu,
điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi
đã chiêm ngưỡng,
và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống.
2Quả vậy, sự
sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng,
chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về
Chúa Cha
và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi.
3Điều chúng
tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa,
để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp
thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người.
4Những điều
này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn. (1Ga 1,1-4).
Niềm vui của người kể và niềm vui của người nghe
được trọn vẹn, vì cả hai bên cùng được “hiệp
thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người”. Chúa Cha sai
Con đến với chúng ta vì mục đích ấy. Người viết ra kinh nghiệm của mình cũng vì
mục đích ấy.
Khi kể về bữa ăn cuối cùng giữa Thầy Trò, Tin Mừng
thứ tư kể cho chúng ta bước khởi hành cuộc hành trình của Con trở về trong lòng
Cha:
“Trước lễ
Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến giờ phải bỏ thế
gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở
thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (13,1).
Người từ Cha mà đến cũng vì yêu, Người về với
Cha cũng vì yêu. Người kể điều cuối cùng về Cha bằng lời nói và việc làm. Trong
thư I, thánh Gioan sẽ tóm lại bằng
Danh Mới của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Tình
Yêu.
Trong sách Xuất
Hành, sau vụ dân thờ hình tượng con bê bằng vàng, ông Mô-sê đã xin và Thiên
Chúa đã tha cho dân, rồi trao cho ông hai tấm bia Thiên Chúa tự tay khắc luật
Giao Ước để đem xuống cho dân, nhưng xuống tới chân núi, thấy cảnh gai mắt, ông
lại nổi giận và tự tay đập vỡ hai bia đá, coi như tự tiện phá bỏ Giao Ước của
Thiên Chúa, lại tuyên bố thánh chiến tiêu diệt những kẻ bị coi là thủ phạm (Xh 32,14-29). Sau đó ông nhận ra mình
chưa biết đường lối của Thiên Chúa, chứng tỏ mình chưa biết Thiên Chúa, tuy đã
được vào trong đám mây với Thiên Chúa, nên ông cầu xin:
“Nếu quả thật con đã được nghĩa với Ngài, xin khấng tỏ cho con biết đường
lối của Ngài, để con biết Ngài, và được nghĩa với Ngài.” (33,12).
Thiên Chúa truyền cho ông tự tay đẽo hai tấm bia
đá giống hai tấm bia của Thiên Chúa mà ông đã tự tay đập vỡ dưới chân núi rồi tự
tay vác lên núi, không cho ai đi theo để giúp ông như lần trước. Lần này Thiên
Chúa đến cho ông biết đường lối của Thiên Chúa:
ĐỨC CHÚA ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng
danh Người là ĐỨC CHÚA. 6ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt
ông và xướng: “ĐỨC CHÚA! ĐỨC CHÚA! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén
giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7giữ lòng nhân
nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng
không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha
ông.”
Vậy thì Thiên Chúa là Đấng nhân hậu từ bi, nhân
nghĩa với muôn ngàn thế hệ. Thiên Chúa sẽ trừng phạt, mà khi Thiên Chúa ra tay
trừng phạt thì trừng phạt ba bốn đời cơ. Nhưng muốn thấy Thiên Chúa trừng phạt
thế nào thì chịu khó chờ sau muôn ngàn thế hệ, chứ không phải như ông đã
trừng phạt tức thì theo cơn nóng giận.
Con Thiên Chúa đến làm người mới cho chúng ta biết
Thiên Chúa là Tình Yêu, và đã ban
chính Con Một cho loài người, để làm “Con
Chiên Thiên Chúa Đấng xóa tội trần gian”.
Con đường mà Con Thiên Chúa đã đi khi từ trong
lòng Cha đến với chúng ta, rồi từ giữa chúng ta về lại trong lòng Cha là đường
lối của Thiên Chúa mà Mô-sê đã xin Thiên Chúa cho ông biết để ông biết Thiên
Chúa.
Con đường ra khỏi thế giới này là cái chết. Con
Thiên Chúa đã không được cất lên trời trên cỗ xe và ngựa bằng lửa như E-li-a (2V 2,11), mà đi chung con đường của anh
chị em mình, nhưng đặc biệt hơn. Người không có chỗ để nằm mà trút hơi thở cuối
cùng và không có thân nhân vuốt mắt, cũng không có “bốn tấm dài hai tấm ngắn”,
và một ngôi mộ đào cho mình như người Việt Nam. Người ra đi trên một cây gỗ su xi mà chính
người phải tự mình vác lên một ngọn đồi ở ngoài cổng thành Giê-ru-sa-lem để
lính Rô-ma treo Người lên đó. Tin Mừng thứ tư thì nói “ở giữa hai người khác”, còn các Tin Mừng Nhất Lãm thì nói “giữa hai kẻ gian phi” hoặc “hai tên trộm cướp”.
Người tiếp tục đến cùng con đường “hóa ra không”
ngay trong thân phận con người. Người bị lột hết, không chỉ áo sống mà cả phẩm
giá con người. Nhờ một người môn đệ ẩn danh, nhưng quyền thế và giàu có là
Giô-xép A-ri-ma-thê, bây giờ mới xuất đầu lộ diện để gặp thẳng Phi-la-tô, xin
lãnh xác Thầy để mai táng, Người mới khỏi bị quăng xuống hố như những từ tù bị
án xử treo lên cây gỗ. Cuộc mai táng vội vàng vì là chiều ngày dọn Chiên Vượt
Qua để ăn mừng lễ. Nhưng ông cũng kịp đi mua một tấm vải mới để liệm (Mc 15,46). Một môn đệ ẩn danh quyên thế
khác là Ni-cô-đê-mô đem một trăm cân một dược trộn với trầm hương tới. Hai ông
tẩm liệm theo đúng tục lệ Do Thái. Chúa đã sinh làm người Do Thái, chết như một
tên tội phạm nhưng được mai táng như một người Do Thái. Chúa không có phần mộ
dành sẵn cho mình, được đặt vào ngôi mộ của ông Giô-xép.
Thế là cuộc mai táng nối lại với lúc Chúa sinh
ra. Không có chỗ cho Mẹ nằm sinh con, không có chỗ cho Mẹ đặt con mới sinh. Thế
mà lại sinh ngay tại Be-lem, nguyên quán của tổ tiên là Đa-vít. Không có thân
nhân để nhờ vả, không có họ hàng tới viếng thăm, chỉ có mấy con vật tiếp đón,
như nhận ra chủ của mình[2], nhường cho cái máng cỏ làm
nôi. Mẹ đã mang theo được tấm khăn trong chuyến đi từ Na-da-rét lên Be-lem để bọc
con mới sinh và đặt nằm trong máng cỏ.
Nằm trong Máng Cỏ, Người đã nói lên ý nghĩa cuộc
hành trình của Người: trở nên thức ăn đem sự sống mới cho loài người: SỰ SỐNG CỦA
THIÊN CHÚA.
Tin Mừng thứ Tư sẽ giải thích Người trở thành của
ăn của uống như thế nào và ta sẽ ăn và uống bằng cách nào.
Trước hết ăn và uống Lời của Người, vì “Lời
của Người là Thần Khí và Sự Sống” (6,63). Người là của ăn trở thành sự sống đời
đời, vì “Người là Bánh Thiên Chúa ban,
Bánh từ trời xuống, Bánh thật: Bánh của Thiên Chúa, là Bánh từ trời xuống và
đem sự sống cho thế gian”. Người nói thẳng: “Tôi là Bánh hằng sống, từ trời xuống. Ai ăn Bánh này sẽ sống đời đời.
Hơn nữa Bánh tôi sẽ cho, chính là Thịt của tôi để đem sự sống cho thế gian”.
Lời tuyên bố của Người chói tai thính giả trong
Hội đường. Nhưng Người không tìm cách giảm nhẹ mà đẩy tới cùng: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông
không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.
Điều bị đảo ngược ở đây là của ăn thức uống hằng
ngày trở thành máu thịt của chúng ta, nuôi dưỡng sự sống của chúng ta, còn Máu
và Thịt của Người lại biến đổi chúng ta, cho chúng ta chính sự sống của Người:
54Ai ăn thịt
và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào
ngày sau hết, 55vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là
của uống. 56Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong
tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57Như Chúa Cha là Đấng hằng sống
đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà
được sống như vậy.” (6,53-57).
Các Tin Mừng Nhất Lãm sẽ kể cho chúng ta việc
Chúa Giê-su tự trao mình làm của ăn và của uống cho chúng ta trong bữa Tiệc Ly
dưới hình bánh hình rượu: “Hãy cầm lấy mà
ăn, đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em”; “Hãy cầm lấy mà uống, chén này là
chén Máu của Thầy, đổ ra vì anh em” (Mt
26,26-28; Mc 14,22-25; Lc 22,19-20 // 1Cr 11,23-25). Để trở thành bánh, lúa mì phải được xay ra và nướng
trong lò; để trở thành rượu, trái nho phải được ép lấy nước cốt và để trong
thùng cho lên men. Cái chết trên thập giá vừa là cối xay vừa là bồn ép; những
đau khổ đau khổ tột cùng suốt cuộc khổ nạn là lò nướng bánh và ngôi mộ là bồn
chứa cho nước nho lên men thành rượu. Khi ra khỏi mộ trong phục sinh vinh hiển
thì Chúa đã thành Bánh và Rượu để ban sự sống của Thiên Chúa cho chúng ta.
Con Thiên Chúa đã đến như quà tặng của Tình Yêu
mà Cha cho nhân loại để trở thành Anh Cả của chúng ta, chung trọn vẹn thân phận
con người với chúng ta (X. Hr
2,5-18). Hành trang Người mang theo xuống trần gian là nguyên khối Tình Yêu của
Cha. Người đến kể cho chúng ta biết Cha của Người là Tình Yêu, không chỉ kể bằng
lời, nhưng kể bằng việc làm, bằng đời sống và bằng chính mạng sống. Cuối cùng bằng
chính sự Phục Sinh để cho thấy Cha là Tình Yêu, mạnh hơn sự chết.
Giu-se bên Ai Cập hỏi anh em, khi họ chưa nhận
ra ông, về “cha các ngươi”, để cuối cùng nói cho họ biết: đó là cha tôi. Ông giải
thích cho anh em: ‘Chính là để duy
trì sự sống của anh em mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em” (45,5). Anh
em vẫn chưa dám tin là ông thật tình tha cho họ, nên sau khi cha chết, họ còn
“mạo di chúc của cha” để xin tha, ông giải thích lần nữa:
“Các anh ông Giu-se thấy cha mình đã chết thì bảo nhau: “Không
khéo Giu-se còn hận chúng ta và trả lại cho chúng ta tất cả điều
ác chúng ta đã gây ra cho nó!” 16Họ sai người đến nói với ông:
“Cha của chú trước khi chết đã truyền rằng: 17Các con hãy nói
thế này với Giu-se: ‘Thôi! Xin con tha tội tha lỗi cho các anh
con, vì họ đã gây ra điều ác cho con.’ Bây giờ, xin chú tha tội cho các kẻ làm
tôi Thiên Chúa của cha chú!” Ông Giu-se khóc, khi họ nói với ông như
thế.
18Các anh
ông đích thân đến cúi rạp xuống trước mặt ông và nói: “Này chúng tôi là nô
lệ của chú.” 19Ông Giu-se nói với họ: “Đừng sợ! Tôi
đâu có thay quyền Thiên Chúa! 20Các anh đã định làm điều ác cho tôi,
nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra
hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo. 21Bây giờ các anh đừng sợ,
tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh.” Ông an ủi và chuyện trò
thân mật với họ.
Khởi đầu câu chuyện là “Các anh cậu thấy cha yêu cậu hơn tất cả các anh, thì sinh lòng ghét cậu
và không thể nói năng tử tế với cậu.” (37,4). Khi ông cho anh em biết sự thật
về thân thế của mình lần đầu, phản ứng của họ như thế nào?
Ông Giu-se nói với anh em : “Tôi là Giu-se đây ! Cha
tôi còn sống không ?” Nhưng anh em không thể trả lời : thấy mình đối diện với
ông, họ bàng hoàng. 4Ông Giu-se nói với anh em : “Hãy
lại gần tôi.” Họ lại gần. Ông nói : “Tôi là Giu-se, đứa em mà các anh
đã bán sang Ai-cập. 5Nhưng bây giờ, các anh đừng buồn
phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây : chính là để duy trì sự sống của
anh em mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em.
Rồi “Ông
bá cổ Ben-gia-min, em ông, mà khóc ; Ben-gia-min cũng gục vào cổ
ông mà khóc. 15ông hôn
tất cả các anh và ôm họ mà khóc, sau đó anh em ông nói chuyện với ông”
(45,3-5,15). Để ý là ông Giu-se khóc, Ben-gia-min cũng khóc, còn 10 người
kia, không ai khóc. Nhưng ít ra họ nói chuyện với ông. Lần cuối khi họ mạo di
chúc của cha để xin tha, thì ông an ủi và chuyện trò thân mật với họ,
nhưng vẫn không thấy họ thân mật lại với ông.
Rồi ông sai anh em về báo tin cho cha, gởi xe về
đón cha và cả gia đình sang Ai cập với ông để tránh nạn đói còn kéo dài và được
sống (X. St 45,3-15), hoàn thành sứ mạng cha đã trao cho ông mấy chục năm trước,
khi ông 17 tuổi : “Con hãy đi xem các anh
con có được yên lành không, xem chiên dê có được yên lành không, rồi đem tin về
cho cha.” (37,14). Giu-se đã trải
qua một hành trình đi xuống, do sự phản bội của anh em, từ địa vị con cưng của
Gia-cóp xuống tận đáy giếng, làm thân nô lệ, rồi xuống tận đáy ngục tù, để cuối
cùng lên địa vị thay Pha-ra-ô, toàn quyền cai trị nước Ai Cập :
“Sau khi Thiên Chúa đã cho ông biết tất cả những điều ấy, không ai thông
minh và khôn ngoan như ông. 40Ông sẽ là tể tướng triều
đình của ta, toàn thể dân ta sẽ phục tùng mệnh lệnh của ông ; ta lớn hơn ông chỉ
vì ngai vua mà thôi.” 41Pha-ra-ô nói với
ông Giu-se : “Coi đây, ta đặt ông cai quản toàn cõi Ai-cập.” 42Pha-ra-ô rút
nhẫn ra khỏi tay mình và xỏ vào tay ông Giu-se, mặc cho ông y phục vải gai
mịn, và đeo vào cổ ông chiếc vòng vàng . 43Vua cho ông lên
xa giá thứ hai của vua, và người ta hô trước mặt ông : “Quỳ xuống !” Như vậy,
vua đặt ông cai quản toàn cõi Ai-cập.
44Pha-ra-ô nói
với ông Giu-se : “Ta là Pha-ra-ô. Không có lệnh của ông,
không ai được cử động tay chân trong toàn cõi Ai-cập.” (41,39-44).
Con Thiên Chúa từ vinh quang Con Một Yêu Dấu hằng
ở trong lòng Cha, tự hóa ra không, xuống mặc lấy thân nô lệ, làm Anh của một
loài người phản bội, kể cho chúng ta về Cha của Ngài và do sự phản bội của anh
em, xuống tận đáy âm ty, rồi phá tan cả âm ty để giải thoát anh em mình khỏi
cõi chết. Trong Tin Mừng thứ tư, sứ điệp Người trao cho bà Maria Ma-đa-lê-na
chuyển cho các môn đệ : «Hãy đi gặp
anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em,
lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em.’” (20,17)
Ông Giu-se thì bảo anh em về báo tin cho cha, và
sai xe, ngựa về đón cha với cả gia đình xuống với mình, còn Chúa Giê-su thì nhắn :
«Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của
anh em». Trước khi xuống tận đáy âm ty, Chúa Giê-su đã xin Cha trong lời
nguyện hiến tế :
“Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban
cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh
quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo
thành. 25Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết
Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai
con. 26Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa,
để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.”
Nhưng trước khi họ được vào trong vinh quang,
nơi Người đang ở thì họ phải tiếp tục sứ mạng Cha đã trao cho Người :
Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác
thần. 16Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không
thuộc về thế gian. 17Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ.
Lời Cha là sự thật. 18Như Cha đã sai con đến thế gian,
thì con cũng sai họ đến thế gian.
Tiếp tục sứ mạng của Người thì các môn đệ cũng sẽ
chung thân phận với Người :
“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19Giả
như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng
vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế
gian, nên thế gian ghét anh em. 20Hãy nhớ lời Thầy đã nói với
anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt
bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. 21Nhưng
họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi
họ không biết Đấng đã sai Thầy »
Nhưng các môn đệ đã được Cha bảo đảm ngay từ bây
giờ ; không chỉ nhóm môn đệ đã từng theo Người mấy năm nay, mà cả những ai
sẽ nhờ lời các môn đệ làm chứng mà tin vào Người, nghĩa là cả «dòng dõi» sẽ được
sinh ra nhờ lời rao giảng:
“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ
lời họ mà tin vào con, 21để tất cả nên một, như Cha ở
trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta . Như vậy, thế
gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. 22Phần con, con đã ban cho họ
vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: 23Con
ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian
sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.
Người bảo đảm không chỉ với lời cầu nguyện của
Người, nhưng bằng một sự hiện diện mới:
Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu
Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy
sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. 8Khi Người đến, Người sẽ chứng
minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử: 9về
tội lỗi : vì chúng không tin vào Thầy ; 10về sự công
chính: vì Thầy đến cùng Chúa Cha, và anh em không còn thấy Thầy nữa ; 11về
việc xét xử: vì Thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi.
12“Thầy còn
nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13Khi
nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.
Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ
nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. 14Người
sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh
em. 15Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã
nói: Người lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em.
Như vậy trong hành trình trở lên với Cha, Chúa
Giê-su mang theo một hành trang rất nặng. Ngay khi thấy dấu hiệu chứng tỏ thập
giá đã kề bên, một đàng Người khiếp sợ như muống ngọng, nhưng đàng khác Người
đã tuyên bố thành quả đạt được nhờ cây thập giá.
Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến ! Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha,
xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28Lạy
Cha, xin tôn vinh Danh Cha.” Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn
vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa !” 29Dân chúng đứng ở
đó nghe vậy liền nói: “Đó là tiếng sấm !” Người khác lại bảo: “Tiếng một
thiên thần nói với ông ta đấy !” 30Đức Giê-su đáp:
“Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. 31Giờ
đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp
bị tống ra ngoài ! 32Phần tôi, một khi được giương
cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” 33Đức Giê-su nói
thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào
Chúng ta chứng kiến một cảnh gợi lại cảnh ở núi
Xi-nai, Mô-sê nói, Thiên Chúa trả lời trong tiếng sấm sét (Xh 19,19), khiến dân khiếp sợ:
Khi nghe tiếng sấm sét, tiếng tù và, khi thấy ánh lửa và núi bốc
khói, toàn dân sợ hãi run rẩy và đứng xa xa. 19Họ nói với
ông Mô-sê: “Xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe ;
nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất !” 20Ông Mô-sê bảo
dân: “Đừng sợ hãi, vì Thiên Chúa đến là để thử thách anh em và làm cho
anh em luôn luôn kính sợ Người, ngõ hầu anh em đừng phạm tội.” 21Dân
đứng xa xa, còn ông Mô-sê thì tiến lại gần đám mây đen, nơi Thiên
Chúa đang ngự. (Xh
20,18-21)
Tiếng sấm sét ở Xi-nai nhằm cho dân kính sợ
Thiên Chúa, tiếng sấm vang lên ở sân Đền Thờ hôm nay báo giờ phán xét thế gian
đã tới. Cuộc phán xét này không phải để tiêu diệt, nhưng để giải thoát loài người
khỏi quyền lực của thủ lãnh thế gian là kẻ đã đem tội lỗi và cái chết vào cho
loài người khi xúi tổ tiên nghi ngờ Tình Yêu, bất tuân lệnh Thiên Chúa, giơ tay
lên cây hái trái cấm trong vườn Địa Đàng.
Hành trang Chúa Giê-su mang theo trên hành trình
đi lên là phần thưởng, là chiến lợi phẩm Con Thiên Chúa đoạt từ tay thủ lãnh thế
gian nhờ cây thập giá, vì Người mạnh hơn, như Người đã nói:
«Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều
Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. 21Khi một người mạnh được
vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an
toàn. 22Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được
người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát
những gì đã lấy được. » (Lc 11,20-22).
Sách Sáng
Thế kể việc Áp-ra-ham chất củi lên vai con một yêu dấu lên núi để dâng
chính người con ấy làm của lễ toàn thiêu, như Thiên Chúa truyền cho ông. Hai
người tôi tớ và con lừa phải chờ ở dưới chân núi. Chỉ có hai cha con cùng đi
lên núi. Tới nơi, ông đã lập bàn thờ, xếp củi lên, để lửa sẵn một bên, rồi trói
con đặt lên trên và giơ tay cầm lấy con dao để kết thúc cuộc tế lễ. Bấy giờ
Thiên Chúa mới ngăn tay ông lại, Người chỉ nhận tấm lòng của ông và trả lại đứa
con một yêu dấu cho ông, để đứa con một trở thành dòng dõi đông đúc như sao trời
cát biển (St 22,1-19).
Con Một yêu dấu của Thiên Chúa, thì Người để cho
người ta chất cây thập giá lên vai cho Con vác lên núi. Người không chặn tay bọn
lính, để mặc chúng lột trần truồng và đóng đinh Con của Người vào cây gỗ su xi,
dựng lên một cách thô bạo trước mặt đám đông khách thập phương kéo nhau về
Thành Thánh dự lễ Vượt Qua, là lễ kỷ niệm đêm Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi
ách nô lệ bên Ai-cập. Con Thiên Chúa bị treo lên cây thập giá, là nhục hình người
Rô-ma dành xử tử nô lệ. Thế là Con Thiên Chúa, vốn ngang hàng với Thiên Chúa,
đã đi đến cùng trong hành trình «tự hóa
ra không, mang lấy thân nô lệ và vâng lời cho đến nỗi bằng chết và chết trên
cây thập giá» (Pl 2, 6-8).
Vẫn theo bài thánh ca trong thư Phi-líp-phê Thiên Chúa đáp lại bằng cách
siêu tôn Con :
Chính vì thế,
Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt
trên muôn ngàn danh hiệu.
10Như vậy,
khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm
phủ,
muôn vật phải bái quỳ ; 11và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi
loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô
là Chúa"
Bài thánh ca trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô trình bày đó là kế hoạch của
Thiên Chúa :
Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng
ta.
Trong Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng
muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.
4Trong Đức Ki-tô,
Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,nhờ
tình thương của Người .
5Theo ý muốn
và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ
Đức Giê-su Ki-tô,
6để ta hằng
ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử
yêu dấu.
7Trong
Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ
ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng
ân sủng rất phong phú của Người.
8Ân sủng
này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.
9Người cho
ta được biết thiên ý nhiệm mầu:
thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.
10Đó là đưa thời
gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ
lãnh là Đức Ki-tô. (1,3-10)
Thư Cô-lô-xê
cũng có bài thánh ca tương tự:
« Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ
cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu.
Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi
Người, 20cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà
giải với mình.
Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi
loài dưới đất và muôn vật trên trời. » (Cl
1,18-20).
Điều chúng ta khó hiểu và khó chấp nhận là tại
sao trong kế hoạch đời đời của Thiên Chúa lại có yếu tố quyết định là Máu của
Con Thiên Chúa phải đổ ra trên thập giá ? Đó là màu nhiệm vượt sức trí
khôn chúng ta. Chúng ta cố gắng hiểu phần nào theo Sách Thánh. Các thụ tạo có sự
sống mà kinh nghiệm giác quan cho thấy được thì sự sống ở trong máu. Sau khi
Ca-in giết em: ĐỨC CHÚA phán với Ca-in:
“A-ben em ngươi đâu rồi ?” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là
người giữ em con hay sao ?” 10ĐỨC CHÚA phán: “Ngươi đã làm
gì vậy ? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta ! (St 4,9-10)
Sau nạn Hồng Thủy, Thiên Chúa phán với Nô-ê:
Mọi loài di động và có sự sống sẽ là lương thực cho các ngươi ; Ta
ban cho các ngươi tất cả những thứ đó, cũng như đã ban cỏ xanh tươi. 4Tuy
nhiên các ngươi không được ăn thịt với mạng sống của nó, tức là máu. 5Nhưng
Ta sẽ đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi
; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống
của người anh em mình.
6 Ai đổ máu
con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra,
vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa. (St 9,3-6)
Câu trên đây có vẻ như cho chúng ta thêm một
cách giải thích về con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa: con người
không chỉ là loài có sự sống, mà sự sống của con người là do hơi thở của Thiên
Chúa. Các loài khác có sự sống ở dưới nước và trên mặt đất là kết quả của Lời
Thiên Chúa phán vào ngày thứ năm trong công trình tạo dựng, sau khi trời đất,
và biển đã ổn định:
Thiên Chúa phán: “Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật
lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời.” 21Thiên
Chúa sáng tạo các thuỷ quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới
nước tuỳ theo loại, và mọi giống chim bay tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là
tốt đẹp. 22Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh
sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển ; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt
đất.” 23Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.
24Thiên Chúa
phán: “Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại: gia súc, loài bò sát và
dã thú tuỳ theo loại.” Liền có như vậy. 25Thiên Chúa làm ra
dã thú tuỳ theo loại, gia súc tuỳ theo loại và loài bò sát dưới đất tuỳ theo loại.
Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.
Sau các loài sinh vật dưới nước và chim trời: việc
tạo dựng các loài thú trên mặt đất gia súc, bò sát, dã thú được kể giữa ngày thứ
năm, và ngày thứ sáu, là ngày Thiên Chúa dựng nên con người.
Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh
chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia
súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.”
27Thiên Chúa
sáng tạo con người theo hình ảnh mình,
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.
28Thiên Chúa
ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật
nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển,
chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” 29Thiên Chúa
phán: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và
mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. 30Còn
đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban
cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực.” Liền có như vậy. 31Thiên
Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và
một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
Con người xuất hiện cuối cùng, như tột đỉnh công
trình tạo dựng. Trình thuật tạo dựng ở chương thứ hai của sách Sáng Thế giải thích tại sao con người
cao quý hơn các loài vật: vì con người được Thiên Chúa tự tay nặn ra từ bụi đất,
nhưng sự sống của con người do hơi thở của Thiên Chúa mà có: con người vừa
chung phần với các loài thú, vì Thiên Chúa lấy bụi đất nặn thành con người, vừa
vượt trên các loài vật, vì sự sống của con người do chính hơi thở của Thiên
Chúa ban cho. Hơn thế nữa, chỉ có con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh
Thiên Chúa, tạo một nơi ở đặc biệt và đặt con người thay mặt Thiên Chúa cai quản
các sinh vật khác:
7ĐỨC
CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ
mũi, và con người trở nên một sinh vật. 8Rồi ĐỨC
CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt
vào đó con người do chính mình nặn ra (St 2,7-8)
Trong lời Thiên Chúa phán với ông Nô-ê, thì sự sống
của loài vật cũng là của Thiên Chúa, nên con người được ăn thịt, nhưng không được
ăn huyết vì huyết là chính sự sống của loài vật (Đnl 12,16.23-24). Đó là sư phạm của Sách Thánh để dạy người ta tôn
trọng sự sống. Nếu sự sống của loài vật mà phải tôn trọng thì sự sống của con
người càng cao quý và phải tôn trọng hơn nữa.
Của lễ trong Cựu Ước, ngoài các nông sản đầu mùa
(x. Đnl 26,1-11 ; Xh 23,14-17.19), còn dâng cả loài vật để
nhìn nhận rằng tất cả là ân huệ của Thiên Chúa, và khi đem con vật làm của lễ
thì phải dâng cả máu và mỡ của nó, vì mỡ cũng được coi là tương đương với máu (Xh 23,18; Lv 3,2-4;4,8-10.13-15), để nhìn nhận rằng sự sống loài vật cũng thuộc
về Thiên Chúa. Đó là một bước sư phạm nữa về giá trị mạng sống con người.
Máu loài vật được dùng để kết giao ước giữa
Thiên Chúa và loài người (Xh 24,5-8)
tượng trưng cho sự chung huyết nhục. Thiên Chúa nhận dân làm dân của Chúa, dân
nhận Thiên Chúa là Chúa của mình. Ngày lễ xá tội, để tái lập Giao Ước mà dân đã
vi phạm bằng tội lỗi, lại dùng máu để xá tội.
Thiên Chúa đã tạo dựng con người với sự ưu ái đặc
biệt, “theo hình ảnh của Thiên Chúa”
(St 1,26-27), và “trao hơi thở của Thiên Chúa để làm cho con
người thành loài có sự sống” (St 2,7).
Con Thiên Chúa làm người để dạy bài cuối cùng về câu này: “Theo hình ảnh của Thiên Chúa”, nghĩa là gì ? Là biết yêu
mến, vì THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU. Thiên Chúa đã mạc khải Tình Yêu của Người
qua công trình tạo dựng, nhưng con người chưa nhận ra, chưa hiểu. Vì Xa-tan đã
xúi con người nghi ngờ Tình Yêu của Thiên Chúa và nổi loạn. Do đó con người đã
đảo lộn mọi tương quan: tương quan với Thiên Chúa, tương quan giữa người nam và
người nữ, giữa anh em cùng chung huyết nhục ; tương quan giữa con người với
thiên nhiên. Tất cả mọi sự dữ trên trần gian do con người gây ra đều bắt nguồn
từ đó. Ngày nay càng rõ hơn bao giờ, con người áp bức thống trị nhau, không còn
tôn trọng mạng sống từ lúc khởi đầu trong lòng mẹ cho tới chỗ dành cả quyền tự
hủy hoại chính mạng sống của mình, như thể mình là chủ mạng sống. Con người
đang hủy hoại mọi sinh vật khác và cả môi trường sống của loài người.
Nhưng mọi quà tặng của Thiên Chúa cho loài người
trong tạo dựng mới chỉ là công trình của Thiên Chúa. Thiên Chúa ban quà tặng lớn
hơn hết để bày tỏ tình yêu là chính mình, qua Con Một yêu dấu. Chúa Giê-su là
Con Một yêu dấu của Thiên Chúa “xuống” làm người, nhận lấy sự sống của loài người:
không chỉ là tượng trưng nữa, mà thực sự chung huyết nhục để thành anh em của
loài người để dạy cho chúng ta biết “Thiên
Chúa là Tình Yêu” như thế nào. Con Thiên Chúa đích thân trở thành Giao Ước
giữa Thiên Chúa với loài người, mang ý nghĩa hoàn toàn mới, “bất ngờ”, cho bài
ca thứ nhất về người Tôi Tớ của Thiên Chúa trong Is 42,6:
“Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công
chính của Ta.
Ta đã nắm tay ngươi, đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với
dân,
làm ánh sáng chiếu soi muôn nước”.
Cả ba sách Tin Mừng Nhất Lãm (Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22,19-20;
1Cr 11,23-25) và thư 1 Cô-rin-tô đều kể việc Chúa Giê-su thiết
lập Giao Ước bằng máu của chính mình; riêng Tin Mừng Lu-ca và thư 1Cr, 11,23-26
nói rõ là “Giao Ước Mới”, nhắc lời Gr 31,31-34. Sách Ed 11,17-20; 36,22-28 quảng diễn Gr 31,31-34. Mát-thêu và Mác-cô chỉ nói Giao Ước, nhưng vì là Giao
Ước bằng Máu của Chúa Giê-su chứ không phải máu loài vật như Giao Ước Xi-nai,
nên cũng là Mới rồi.
Chúng ta nhận ra những nét chính trong lời hứa
Mô-sê ghi trong sách Đệ nhị Luật 30,6
và các lời hứa Giao Ước Mới trong Giê-rê-mi-a và Ê-dê-kien quảng diễn cùng một
sự can thiệp quyết liệt của Thiên Chúa, vì dân của Giao Ước Xi-nai nhận được
Luật Giao Ước sau khi chứng kiến bao nhiêu việc kỳ diệu Thiên Chúa đã làm cho họ
từ Ai cập cho tới khi đến bờ Đất Hứa, nhưng: “Chính anh em đã thấy những gì ĐỨC CHÚA đã làm trước mắt anh
em, tại đất Ai-cập, chống lại Pha-ra-ô, cùng mọi bề tôi và cả nước
vua ấy, 2đó là các thử thách lớn lao mắt anh (em) từng thấy, là các
dấu lạ điềm thiêng lớn lao ấy. 3Nhưng
cho đến ngày hôm nay, ĐỨC CHÚA đã không cho anh em lòng để biết,
mắt để thấy, tai để nghe”.
Mác-cô gợi lại lời nhận xét này của Mô-sê và áp dụng cho các môn đệ:
14Các môn đệ
quên đem bánh theo; trên thuyền, các ông chỉ có một chiếc bánh. 15Người
răn bảo các ông: “Anh em phải coi chừng, phải đề phòng
men Pha-ri-sêu và men Hê-rô-đê!” 16Và các ông
bàn tán với nhau về chuyện các ông không có bánh. 17Biết thế,
Người nói với các ông: “Sao anh em lại bàn tán về chuyện anh em không có bánh ?
Anh em chưa hiểu chưa thấu sao? Lòng anh em ngu muội thế! 18Anh
em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư? Anh em không nhớ sao: 19khi
Thầy bẻ năm chiếc bánh cho năm ngàn người ăn, anh em đã thu lại được bao nhiêu
thúng đầy mẩu bánh?” Các ông đáp: “Thưa được mười hai.” 20“Và
khi Thầy bẻ bảy chiếc bánh cho bốn ngàn người ăn, anh em đã thu lại được bao
nhiêu giỏ đầy mẩu bánh?” Các ông nói: “Thưa được bảy.” 21Người
bảo các ông: “Anh em chưa hiểu ư?” (8,14-21)
Còn Mát-thêu,
trong bài giảng trên núi (Mt
5,1-7,27) và Lu-ca với bài giảng “ra
mắt nhóm Mười Hai” sau khi đã tuyển chọn họ trên núi và cùng nhau đi xuống (Lc 6,12-49), như giải thích lại Luật
Giao Ước Mô-sê đã nhận ở Xi-nai. Mát-thêu
nhấn mạnh đến yếu tố “tận đáy lòng”, cả khi nói về sự tha thứ trong bài giảng về
đời sống cộng đoàn trong Hội Thánh (18, 21-35).
Trong ba Tin Mừng Nhất Lãm thì Máu của Chúa
Giê-su vừa là máu xá tội vừa là máu lập
Giao Ước mới.
Tin Mừng Gio-an
dùng một bút pháp khác. Ngay từ đầu, danh hiệu đầu tiên ông Gio-an Tiền Hô giới
thiệu Chúa Giê-su là “Con Chiên của Thiên
Chúa, đấng xóa tội trần gian”. Bữa ăn cuối cùng với các môn đệ không phải
là bữa ăn mừng lễ Vượt Qua như các Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giê-su lại nói rất
nhiều về ý nghĩa cái chết của Chúa. Chúa rửa chân cho các môn đệ rồi truyền cho
họ ĐIỀU RĂN MỚI, ĐIỀU RĂN CỦA THẦY. Cuộc khổ nạn xảy ra vào ngày áp lễ Vượt
Qua, và giờ giấc được nêu khớp với giờ qui định cho nghi thức sát tế con chiên
Vượt Qua: 12 giờ trưa, con chiên được đem vào Đền Thờ giao cho các tư tế thì
Phi-la-tô trao Chúa Giê-su cho các thượng tế để chịu treo lên thập giá, và khi
tới giờ “dọn mừng lễ” tức là giờ bắt
đầu sát tế chiên vượt qua và mừng ngày Sabbath, người Do Thái xin Phi-la-tô cho
đánh dập ống chân những người bị treo trên thập giá cho họ chết lẹ để kịp lấy
xác xuống, vì theo Luật thì không được để xác treo trên thập giá trong ngày lễ
long trọng đó. Bọn lính tới làm nhiệm vụ kết liễu thì thấy Chúa Giê-su đã chết
rồi, nên không đánh dập ống chân; đúng luật về chiên vượt qua: không được đánh
dập cái xương nào (Xh 12,46), nhưng một
tên lính lấy đòng đâm thủng cạnh sườn Người, lập tức máu và nước chảy ra. Như vậy
việc sát tế hoàn tất, vì phải làm cho máu ra hết. Người viết kể chi tiết này một
cách long trọng “để anh em tin”. Lời
này mở rộng ý nghĩa từ chiên Vượt Qua tới lời loan báo về mạch nước từ bên phải
Đền Thờ chảy ra, đem sự sống biến đổi cả Biển Chết, làm cho Biển Chết thành Biển
Sống, đầy cá như đại dương (Ed 47,1-11).
Tin Mừng Gio-an
còn kể chi tiết về chiếc áo dài của Chúa Giê-su là áo dệt, không có đường may:
đó là qui định về áo của Thượng Tế (Xh
28,39; 39,27). Như vậy Tin Mừng Gio-an
cho thấy Chúa Giê-su là Đền Thờ đích thật (2,19-22
Máu của Chúa Giê-su là máu chiên Vượt Qua, là
máu Xá tội và máu Giao Ước, ba trong một. Chúa Giê-su vừa là của lễ, vừa là Thượng
Tế (đề tài mà thư Hip-ri sẽ triển
khai tối đa).
Từ lời hứa “cắt bì con tim” trong sách Đệ Nhị Luật tới các lời loan báo Giao Ước
Mới đều đã thành sự trong Chúa Giê-su.
Luật của Giao Ước Xi-nai đã được khắc trên hai tấm
bia bằng đá, nhưng từ bia đá vào tới lòng người và biến thành hành động là con
đường dài hơn đường vào Đất Hứa. Đến cuối hành trình 40 năm, Mô-sê đã nhận ra
lý do: “Chính anh em đã thấy những
gì ĐỨC CHÚA đã làm trước mắt anh em, tại đất Ai-cập, chống lại Pha-ra-ô,
cùng mọi bề tôi và cả nước vua ấy,2đó là các thử thách lớn lao mắt
anh (em) từng thấy, là các dấu lạ điềm thiêng lớn lao ấy. 3Nhưng
cho đến ngày hôm nay, ĐỨC CHÚA đã không cho anh em lòng để biết,
mắt để thấy, tai để nghe”. (29,3).
Với tổ phụ Áp-ra-ham có vẻ dễ dàng quá. Thiên
Chúa nói gì ông cũng tin và làm theo, nên ông thành bạn thân của Thiên Chúa và
Thiên Chúa cho ông một dấu trên da thịt để đánh dấu dòng dõi của ông, hy vọng họ
sẽ tự nhận ra họ là con cái nhà ai và sống xứng đáng với tổ tiên. Nhưng con người
vẫn là con người, như kiểu nói Việt Nam “trí
khôn để ngoài da”.
Sự can thiệp quyết liệt của Thiên Chúa là để cho
dòng dõi Áp-ra-ham do Con Thiên Chúa quy tụ trong Giao Ước Mới có khả năng sống
lòng tin như Áp-ra-ham thì các thư của thánh Phao-lô và Tin Mừng thứ tư giải
thích cho chúng ta: Chính Thánh Thần, Tình Yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con được
gởi đến làm quả tim mới, làm Luật khắc trong Tim. Thánh Thần vừa dạy vừa dỗ,
cho chúng ta biết Thiên Chúa, không chỉ biết gọi Thiên Chúa là Cha: “Abba”, nhưng có sức thắng vượt mọi cản
trở bên trong bên ngoài để làm cho chúng ta sống như Chúa Giê-su đã sống, nói
theo kiểu của thư I Gio-an : “Bước đi như
Đấng ấy đã bước đi” (2,6 ds) , kiểu nói Cựu Ước đã dùng để diễn tả lời
Thiên Chúa đã dùng nói với Áp-ra-ham: “Hãy
bước đi trước mặt Ta và nên hoàn thiện” (St 17,1). Mô-sê sẽ xin Thiên Chúa, “nếu quả thật con đã được nghĩa với Ngài, xin khấng tỏ cho con biết đường
lối của Ngài, để con biết Ngài, và được nghĩa với Ngài” (Xh 33,13). Đó cũng
là kiểu nói quen thuộc của Việt Nam ta. Thánh Phao-lô trong các thư, đặc biệt
thư Rô-ma, Ga-lát. Tin Mừng thứ tư thì trong bữa Tiệc Ly Chúa Giê-su nói rõ về
vai trò của Chúa Thánh Thần. Tin Mừng Lu-ca
nói về Thánh Thần như ơn mà Thiên Chúa ban bao gồm mọi ơn (11,13).
Trong Tin Mừng thứ tư, Chúa Phục Sinh đến với
các môn đệ buổi tối đầu tiên thì đã ban sự bình an và ban Thánh Thần khi trao sứ
mạng mà Chúa đã báo trong lời nguyện hiến tế cuối bữa Tiệc Ly (17,18). Trong
Tin Mừng Lu-ca thì Chúa Phục Sinh đến
trao sứ mạng, nhưng bảo các môn đệ phải chờ cho tới khi nhận được quyền năng từ
trên cao, giống như bản thân Chúa đã sống ở Na-da-rét cho tới khi nhận được quyền
năng Thánh Thần sau khi chịu phép rửa và cầu nguyện ở bờ sông Gio-đan, rồi chịu
Xa-tan thử thách trong hoang địa, sau đó mới bắt đầu thi hành sứ mạng: Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy , Đức Giê-su trở
về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. 15Người giảng
dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh. (4,14-15).
Mô-sê dẫn một đám dân đông đúc gồm dòng dõi
Áp-ra-ham và một đám đông hỗn tạp thoát ách nô lệ ra khỏi Ai-cập. Nhạc phụ tới
thăm mới chỉ dạy cho ông cách tổ chức dân thế nào cho có trật tự và có người
giúp ông trong việc lãnh đạo, chứ không thể đơn thân dẫn một đám đông hỗn tạp
như thế. Rồi Thiên Chúa xác nhận sáng kiến ấy và lấy Thần Khí Thiên Chúa ngự
nơi Mô-sê mà chia cho họ, vì đây là dân của Thiên Chúa nên phải có Thần Khí của
Thiên Chúa mới có thể dìu dắt họ. Chính Thiên Chúa lãnh đạo dân của Người qua
những con người được Thần Khí Thiên Chúa dẫn dắt (x. Ds 11,14-30).
Chúa Giê-su quy tụ một dân mới gồm cả nhân loài,
nên Chúa đã chọn những người sẽ lãnh trách nhiệm là nhóm Mười Hai, tượng trưng
cho Mười Hai chi tộc Ít-ra-en, xin Cha gởi Thánh Thần xuống trên họ và sai họ
đi quy tụ những người tin vào Chúa và dạy dỗ họ tuân giữ đường lối của Chúa.
Tin Mừng Mát-thêu diễn tả lời Chúa
trao sứ mạng cho các ông tại điểm hẹn trên một ngọn núi ở Ga-li-lê:
Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã
truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy,
nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18Đức Giê-su đến gần,
nói với các ông: “Thầy đã được trao
toàn quyền trên trời dưới đất. 19Vậy anh em hãy đi và làm cho
muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và
Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền
cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. (28,17-20).
Lời kết này của Mát-thêu cho chúng ta những nét chính yếu để hiểu về bản chất và sứ
mạng của Hội Thánh mà chúng ta tuyên xưng: Hội
Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, sự hiện diện của
Chúa Giê-su Phục Sinh và Thánh Thần là BẢO ĐẢM DUY NHẤT cho sự tồn tại và việc
thi hành sứ mạng của Hội Thánh.
Chúa Giê-su Phục Sinh đã nhận lại vinh quang của
Con Thiên Chúa và được trao mọi quyền trên trời dưới đất. Tin Mừng thứ
tư nói rõ là quyền ban sự sống và xét xử. Tin Mừng Mát-thêu nói đến quyền xét xử,
dưới dạng dụ ngôn trong bài giảng cánh chung (24-25). Chúng ta tuyên xưng ở cuối
Kinh Tin Kính: “Người lại đến phán xét kẻ
sống và kẻ chết”.
Hội Thánh “tông
truyền”, do các tông đồ truyền lại không chỉ gồm một mớ giáo lý, nhưng là Hội
Thánh do Chúa Giê-su thiết lập và trao cho các tông đồ lãnh đạo, sách Khải
Huyền dùng hình ảnh Giê-ru-sa-lem trên trời:
Đang khi
tôi xuất thần, thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho
tôi thấy Thành Thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa
mà xuống, 11chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực
sáng tựa đá quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê. 12Thành
có tường rộng và cao, với mười hai cửa do mười hai thiên thần canh giữ,
và trên các cửa có ghi tên mười hai chi tộc con cái Ít-ra-en. 13Phía
đông có ba cửa, phía bắc ba cửa, phía nam ba cửa và phía tây ba cửa. 14Tường thành xây trên mười
hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên. (21,10-14).
Sách Công
Vụ cho thấy khi rao giảng Tin Mừng và quy tụ được một số tín hữu thì thánh
Phao-lô đặt người đứng đầu để dẫn dắt cộng đoàn (14,23). Bản văn dùng kiểu nói
trong Cựu Ước “những trưởng lão”. Trong thư gởi môn đệ thân tín là Ti-tô, thánh
Tông Đồ trao nhiệm vụ này cho ông tại đảo Cơ-rê-ta:
“Tôi đã để anh ở lại đảo Cơ-rê-ta, chính là để anh hoàn thành công
việc tổ chức , và đặt những kỳ mục trong mỗi thành, như tôi đã truyền cho
anh. 6Kỳ mục phải là người không chê trách được, chỉ có một
đời vợ, con cái cũng tin đạo và không mang tiếng là sống phóng đãng hay bất phục
tùng. 7Thật vậy, giám quản, với tư cách là quản lý của Thiên
Chúa, phải là người không chê trách được, không ngạo mạn, không nóng tính,
không nghiện rượu, không hiếu chiến, không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn ; 8trái
lại, phải hiếu khách, yêu chuộng điều thiện, chừng mực, công chính, thánh thiện,
biết tự chủ ; 9người ấy phải gắn bó với lời đáng tin cậy và
đúng đạo lý, để vừa có khả năng dùng giáo lý lành mạnh mà khuyên nhủ, vừa
có khả năng bẻ lại những kẻ chống đối” (1,5-9).
Tên gọi và cách tổ chức sẽ biến chuyển theo văn
hóa mỗi thời đại, nhưng đó là cách thức các tông đồ truyền lại cho chúng ta một
Hội Thánh với giáo lý do các tông đồ rao giảng và có tổ chức để bảo vệ và giúp
cộng đoàn tín hữu khỏi bị lung lạc vì các sai lầm mà Xa-tan luôn tìm cách gieo
vào như Chúa Giê-su đã nói trong dụ ngôn cỏ lùng (Mt 13,24-30). Tuy Chúa rất kiên nhẫn, chờ đến ngày thu hoạch cuối
cùng (ngày phán xét) mới tách cỏ lùng ra mà đốt, còn lúa thì thu vào kho thiên
đàng. Cỏ lùng bề ngoài giống lúa quá, đến nỗi họ có thể nhân danh Chúa trừ được
quỷ, làm được phép lạ, như Chúa nói:
“Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với
anh em ; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. 16Cứ xem họ
sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây
găng, làm gì có vả mà bẻ? 17Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt,
cây xấu thì sinh quả xấu. 18Cây tốt không thể sinh quả xấu,
cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. 19Cây nào không sinh
quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. 20Vậy, cứ xem họ sinh
hoa quả nào, thì biết họ là ai.
21“Không phải
bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời
cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được
vào mà thôi. 22Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng
: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã
chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh
Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao ?’ 23Và bấy giờ Thầy sẽ
tuyên bố với họ : Ta không hề biết các ngươi ; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi
bọn làm điều gian ác ! (Mt 7,15-23).
Công Đồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế Tín về Giáo Hội, chương thứ ba
«về cơ cấu phẩm trật Giáo Hội và đặc biệt
về chức Giám Mục» nói rõ:
Các Giám Mục nhận lãnh tác vụ coi sóc cộng đoàn cùng với các linh mục và
phó tế làm phụ tá, khi thay mặt Thiên Chúa lãnh đạo đoàn chiên mà các ngài là
những chủ chăn, với tư cách là Thầy dạy giáo thuyết, tư tế lo phụng vụ thánh và
thừa tác viên lo việc cai quản. Tương tự như phận vụ Chúa trao riêng cho thánh
Phê-rô, vị Tông đồ trưởng, là một phận vụ trường tồn và phải được trao lại cho
những người kế vị ngài, cũng thế, phận vụ chăn dắt Giáo Hội mà các Tông đồ nhận
lãnh cũng trường tồn và được thi hành không gián đoạn nhờ thánh chức Giám mục.
Vì thế Thánh Công Dồng dạy rằng chính
Chúa đã lập các Giám mục kế vị các Tông Đồ với tư cách là chủ chăn Giáo Hội, ai
nghe các ngài là nghe Đức Ki-tô, còn ai khước từ các ngài là khước từ Đức Ki-tô
và Đấng đã sai Đức Ki-tô (x. Lc
10,16).
Chúa Cha đã trao mọi quyền cho Chúa Giê-su thì
không lấy lại để sai người nào nữa. Cả Thánh Thần mà Chúa Cha đã hứa thì cũng
do Chúa Giê-su gởi xuống : “Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha
Thầy đã hứa » (Lc 24,49) ; Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật
vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh
em ». (Ga 16,7).
Sau này Thiên Chúa sẽ truyền cho ông hoàn chỉnh cái Lều (Xh 35-40). Trong trình thuật Truyền Tin,
Lc 1,28-35 thiên sứ hình ảnh này để
giải thích cho Đức Trinh Nữ Maria cách thức Trinh Nữ sẽ thụ thai.